NHỮNG NỘI DUNG KHÁC

- Bác sĩ Phạm Ngọc Bích "Nấm linh chi với tiếng vọng của người xưa"

- Đông y - Bàn về bệnh tiểu đường, bệnh gút (gout)

 

 

Theo số liệu thông kê gần đây ở nước ta có hơn 3.800 loài cây làm thuốc trên tổng số hơn 10.600 loài thực vật. Hàng năm cả nước sử dụng khoảng 50.000 tấn dược liệu. Dược liệu dùng làm thuốc được thu hái hoang dại, trồng trọt hoặc nhập khẩu  Với số lượng lớn như vậy có rất nhiều cây thuốc, vị thuốc c̣n xa lạ với người dùng, hoặc nghe nhắc đến nhiều nhưng chưa hiểu đầy đủ về chúng. Trang web giới thiệu  một số thông tin làm cho bạn đọc gần gũi hơn, thân thuộc hơn với những cây thuốc, vị thuốc này. Có thể t́m kiếm thông tin về các cây thuốc vị thuốc dựa vào nhiều cách khác nhau như t́m kiếm theo tên tiếng Việt phổ thông, tên khoa học, tên gọi cây thuốc, vị thuốc theo cách gọi của cộng đồng các dân tộc ít người ở Việt Nam....

 

 

 

 

A

A giao

Actiso

An tức hương

An nam tử

Anh túc xác

Áp niệu thảo

Ấu tầu

 

B

Ba ba

Ba chạc

Ba chẽ

Ba dót

Ba gạc

Ba kích

Ba kích thiên

Bá bệnh

Bá tử nhân

Bá vương tiêm

Bả dột

Bạc hà

Bạc sau

Bạc thau

Bắc cảo bản 

Bắc sài hồ

Bắc sa sâm

Bắc thương truật

Bấc

Bách bệnh

Bách bộ

Bách hợp

Bách hoa cao

Bách hoa tinh

Bách túc trùng

Bạch biển đậu

Bạch cập

Bạch chỉ

Bạch chỉ nam

Bạch cương tàm

Bạch đàn

Bạch đàn chanh

Bạch đàn liễu

Bạch đàn trắng

Bạch đậu khấu

Bạch đồng nữ

Bạch giới tử

Bạch hoa xà

Bạch hoa xà thiệt thảo

Bạch hạc

Bạch hạc đằng

Bạch hồ tiêu

Bạch lạp

Bạch linh

Bạch mao căn

Bạch mộc hương

Bạch mộc thông

Bạch phàn

Bạch phụ phiến

Bạch phụ tử

Bạch phục linh

Bạch quả

Bạch sửu

Bạch tật lê

Bạch thược

Bạch truật

Bạch truật nam

Bài hương thảo

Bài tiền thảo

Bán biên liên

Bán biên tô

Bán chi liên

Bán hạ

Bàn đại bào

Bấn trắng

Bàng đại hải

Bằng sa

Bao kim

Bào ngư

Bát giác hồi hương

Bát giác phong

Bảy lá một hoa

Băng thạch

Bằng sa

Bèo cái

Bèo tấm

Bèo ván

Bí đỏ 

Bí kỳ nam

Bí ngô

Bích đào

Biển súc

B́m b́m biếc

Binh lang

B́nh vôi

Bọ cạp

Bọ mẩy

Ḅng bong

Bỏng nẻ

Bỏng nổ

Bồ bồ

Bồ công anh

Bồ cu vẽ

Bồ đà

Bồ công anh Trung Quốc

Bồ kết

Bổ cốt chi

Bối mẫu

Bông bét

Bông bụt

Bông ổi

Bông sứ

Bông vang

Bồng bồng

Bơm bớp

Bù rợ

Bùm bụp

Bùng bục

Bụp

Bụp giấm

Bươm bướm

 

C

Cá mực

Cá ngựa

Cà đinh

Cà độc dược

Cà cườm

Cà gai leo

Cà quánh

Cà quưnh

Cà vạnh

Cải bẹ trắng

Cải ngựa

Cam thảo

Cam thảo bắc

Cam thảo đất

Cam thảo dây

Cam thảo nam

Cam toại

Cảm lăm

Can địa hoàng

Can khương

Cần sa

Canh ki na

Canh châu

Cánh kiến đỏ

Cánh kiến trắng

Cao ban long

Cao lương

Cao lương khương

Cảo bản

Cáp giới

Cát cánh

Cát căn

Cát lối

Cát sâm

Cẩm địa la

Câu đằng

Câu kỷ tử

Cẩu tích

Cây ban

Cây bọ mắm

Cây bông bạc

Cây bùi

Cây bướm bạc

Cây càng tôm

Cây cải trời

Cây cau

Cây chè

Cây chành chành

Cây chó đẻ răng cưa

Cây chó đẻ thân xanh

Cây chổi trện

Cây chổi xể

Cây chua meo

Cây cối xay

Cây con khỉ

Cây cơm cháy

Cây cu chó

Cây cứt lợn

Cây de

Cây đại

Cây đ̣

Cây độc lực

Cây đồng tiền

Cây đuôi công

Cây gai

Cây gai dầu

Cây gỏi cá

Cây gạo

Cây hoàn ngọc

Cây hoa cứt lợn

Cây khôi

Cây khủ khởi

Cây lá hen

Cây lá ngón

Cây lô biên

Cây loét mồm

Cây mai gan

Cây máu chó

Cây mỏ quạ

Cây mắc cỡ

Cây măng cụt

Cây mật gấu

Cây một lá

Cây mũn

Cây mùi

Cây Neem

Cây ngón

Cây ngao

Cây ngọt ngẽo

Cây ngũ sắc

Cây ngũ vị bắc

Cây nhàu

Cây nổ

Cây phi tử

Cây quả mơ

Cây quả nổ

Cây râu mèo

Cây sống đời

Cây sứ

Cây sữa

Cây sừng ḅ

Cây sừng trâu

Cây thanh hao dại

Cây thẹn

Cây thùn mũn

Cây thuốc gịi

Cây thuốc bỏng

Cây trám trắng

Cây trâu cổ

Cây vọt

Cây vú ḅ

Cây vú chó

Cây xấu hổ

Cây xuân hoa

Cây xương cá

Cầy hương 

Chân vịt

Chanh leo

Chè đắng

Chè cay

Chè đồng

Chè cước man

Chè dây

Chè hoàng giang

Chè hương

Chè khôm

Chè tàu

Chè vằng

Chi t

Chè Vua

Chiêu liêu

Chỉ thực

Chỉ thiên

Chỉ xác

Chim chim rừng

Chóc gai

Chổi sể

Chổi xuể

Chu sa-Thần sa

Chua ngút

Chùa dù

Chùm ngây

Chuối chát

Chuối hột

Chút chít

Cỏ bấc đèn

Cỏ cú

Cỏ dùi trống

Cỏ đĩ

Cỏ đường

Cỏ gấu

Cỏ hôi

Cỏ lá tre

Cỏ lào

Cỏ lưỡi rắn

Cỏ mần trầu

Cỏ mực

Cỏ ngọt

Cỏ nhọ nồi

Cỏ quan

Cỏ răng rồng

Cỏ roi ngựa

Cỏ sữa lá lớn

Cỏ sữa lá nhỏ

Cỏ tranh

Cỏ xước

Cô ca

Cổ linh chi

Cổ yếm

Cổ yếm lá bóng

Cốc tinh thảo

Cốt cắn

Cốt khí củ

Cốt khí dây

Cốt khí muồng

Cốt khí thân tím

Cốt khí thân trắng

Cốt toái bổ

Cù túc xác

Củ cây cơm nếp

Củ b́nh vôi

Củ chóc

Củ dong

Củ gió đất

Củ khát nước

Củ mài

Củ súng

Cúc hoa

Cúc lương

Cúc ngọt

Cúc nháp

Cúc tần

Cúc tam thất

Cùm cụm răng

Cườm thảo

Cương tàm

Cửu khổng

 

D

Dạ cẩm

Dạ giao đằng

Dă cam thảo

Dă hoè

Dă ngưu bàng

Dă vu

Dành dành

Dâm bụt

Dâm dương hoắc

Dâu tằm

Dầu giun

Dây đau xương

Dây cườm cườm

Dây chi chi

Dây mộc thông

Dây muôi

Dây ruột gà

Dây sống rắn

Dây sữa ḅ

Dây th́a canh

Dây thường xuân

Dây tơ hồng

Dây vàng

Dây vàng giang

De hương

Diêm phụ

Diêm sinh

Diên hồ sách

Diếp cá

Diếp dại 

Diệp hạ châu

Diệp sinh căn

Digital

Dó chuột

Du long thái

Du nhục

Dưa biển

Dứa bà

Dừa cạn

Dứa dại

Dứa gai

Dứa Mỹ

Dương bào

Dương đề

Dương địa hoàng

Dương thê thái

Dương tử tô

 

Đ

Đại bi

Đại hải mă

Đại hoàng

Đại hồi

Đại kích

Đại lực tử

Đại mạch

Đại phù binh

Đại phúc b́

Đại táo

Đại tam diệp thăng ma

Đại thạch cao

Đại thanh

Đại thanh diệp

Đạm đậu sị

Đạm trúc diệp

Đan b́

Đan sâm

Đay

Đào kim nương

Đảng sâm

Đào nhân

Đăng tâm thảo

Đất lượt

Đậu ma

Đậu sị

Đậu ván trắng

Đẻn đai xanh

Đẻn đốm

Đẻn khoang

Địa cốt b́

Địa cốt b́ nam

Địa du

Địa hoàng

Địa liền

Địa long

Địa miên căn

Địa nhĩ thảo

Đỉa biển

Điền cơ hoàng

Đinh hương

Đinh lăng

Đ́nh lịch

Đỏ đậu sị

Đỏ ngọn

Đoạn mẫu lệ

Đọt đắng

Đỗ trọng

Đỗ trọng nam

Độc hoạt

Đông dương sâm

Đông trùng hạ thảo

Đồng tiền lông

Đơn b́  

Đơn đỏ

Đơn gối hạc

Đơn tía

Đơn tướng quân

Đuôi phượng

Đương quy

Đương quy di thực

Đường sâm

 

E

É quế

 

G

Gai bàn chải

Gai dầu Ấn độ  

Gai dầu Trung Quốc

Gai ma vương

Gai mèo

Gai trống

Gấc

Gấu tầu

Giác sâm

Giáng châu

Giảo cổ lam

Giáp ngư

Gió bầu trầm hương

Giới  tử

Giun đất

Gối hạc

Gừng

Gừng gió

Gương sen

 

H

Hà thủ ô đỏ

Hà thủ ô trắng

Hạ khô thảo

Hạ thảo Đông trùng

Hải đồng

Hải khảo tử

Hải kim sa

Hải long

Hải mă

Hải phiêu tiêu 

Hải sài

Hải sâm

Hải tảo

Hàm tu thảo

Hàn the

Hạn liên thảo

Hạn liên tử

Hán trung pḥng kỷ

Hàng bạch chỉ

Hành

Hạnh đào

Hạnh nhân

Hạt cải trắng

Hạt đậu miêu

Hạt lười ươi

Hạt óc chó

Hạt sen

Hạt tiêu

Hạt vừng đen

Hắc chi ma

Hắc giới tử

Hắc hồ tiêu

Hắc phụ

Hắc phong tử

Hắc sâm

Hắc sửu

Hắc táo nhân

Hậu phác

Hiệp hiệp sài hồ

Hoa tế tân

Hoài ngưu tất

Hoa bướm

Hoa đất

Hoá ương lặc

Hoài sơn

Hoàn thảo thạch hộc

Hoàng thảo thạch hộc

Hoàng đằng

Hoàng bá

Hoàng bá nam

Hoàng cầm

Hoàng cầm râu

Hoàng đằng

Hoàng kim thạch

Hoàng kỳ

Hoàng kỳ nam

Hoàng lạp

Hoàng liên

Hoàng liên đằng

Hoàng liên gai

Hoàng liên ô rô

Hoàng lồ

Hoàng lực

Hoàng mộc

Hoàng mộc dài

Hoàng nàn

Hoàng ngưu trà

Hoàng thường sơn

Hoàng tinh

Hoả ma nhân

Hoắc hương

Hoạt thạch

Hoạt thạch phấn

Hoè

Hồ đào

Hồ ma

Hồ tiêu

Hồ tuy

Hồi sinh thảo

Hồng đậu khấu

Hồng hoa

Hồng lam hoa

Hồng sâm

Hồng sim

Húng chanh

Húng chó

Húng dổi

Húng quế

Húng trám

Hùng đởm

Hùng hoàng

Hùng tín

Huyền hồ

Huyền sâm

Huyết dụ

Huyết đằng

Huyết giác

Huyết kiệt

Hương gia b́

Hương nhu tía

Hương nhu trắng

Hương phụ

Hương phụ biển

Hương phụ vườn

Hương thảo

Hươu

Hươu bao tử

Hươu, Nai

Hươu xạ

Hy thiêm

Hy tiên

 

I

Ích mẫu

Ích trí nhân

 

K

Ké đầu ngựa

Keo giậu

Keo giun

Kê cốt thảo

Kê hoàng b́

Kê huyết đằng

Kê niệu thảo

Kê nội kim

Kha tử

Khắc thị hải mă

Khâu dẫn

Khế

Khiếm thực bắc

Khiếm thực nam

Khiên ngưu tử

Khôi nhung

Khôi tía

Khổ địa đảm

Khổ đinh trà

Khổ cốt

Khổ qua

Khổ sâm

Khoản đông hoa

Khổ sâm cho lá

Khổ sâm cho quả

Khổ sâm cho rễ

Khủ khởi

Khúc khắc

Khuynh diệp

Khương hoạt

Khương hoạt lá rộng

Khương hoàng

Khương tam thất

Kiến c̣

Kiến kỳ nam

Kiệu đỏ

Kim anh

Kim bất hoán

Kim cang

Kim cúc

Kim hoa thảo

Kim ngân

Kim thất nương

Kim thoa thạch hộc 

Kim tiền thảo

Kinh giới

Kinh giới đất

Kinh giới núi

Kỳ nam

Kỳ nam kiến

 

L

La bạc tử

La hán

La phu mộc

Lạc tây

Lạc tiên

Lạc tiên trứng

Lá giấp

Lá hen

Lá lằng

Lá lốt

Lan cờ

Lan một lá

Lá náng

Lăo kiều

Lan thảo

Lành ngạch

Lân tơ uyn

Lăo quan thảo

Lạp tử

Liên ngẫu

Liên nhục

Liên pḥng

Liên tâm

Liên tử

Liên tu

Liêu tế tân

Linh chi

Linh chi thảo

Liên kiều

Lộc giác

Lộc giác giao 

Lộc huyết

Lộc nhung

Lộc vĩ

Lông culi

Long cốt

Long đởm

Long năo

Long nha thảo

Long nhăn

Long năo hương

Lô hội

Lộ lộ thông

Lộc cân

Lức

Lưu hoàng

Lưu huỳnh

Lựu

Lười ươi

Lưỡi ḅ

Lưỡi hổ

 

M

Ma hoàng

Mă đề

Mă đề nước

Mă hồ

Mă lam

Mă tiên thảo

Mă tiền

Mă tiên thạch hộc

Mă xỉ hiện

Mă lam

Mạch môn

Mạch nha

Mai baba

Mai hoa băng phiến

Mai mực

Mai rùa

Mao truật

Mào gà trắng

Mạn đà la hoa

Mạn kinh tử

Màn tàn

Màng mề gà

Măng cụt

Mần tưới

Mật gấu

Mật nhân

Mật ong

Mật rắn

Máu chó lá nhỏ

Mẫu đơn b́

Mẫu lệ

Mắc mát

Mắt trâu

Mê nhung

Mễ nhục thung dung

Mía ḍ

Miên tỳ giải

Miết giáp

Miết xác

Minh giao

Minh phàn

Ṃ cua

Ṃ trắng

Mỏ hạc

Mỏ quạ

Móng lưng rồng

Mơ lông

Mơ tam thể

Mớp gai

Mộc hoa trắng

Mộc hồ điệp

Mộc hương

Mộc lan

Mộc miên

Mộc miết tử

Mộc pḥng kỷ

Mộc qua

Mộc tặc

Mộc tặc ma hoàng

Mộc thông

Một dược

Mùi cua

Muồng

Muồng trâu

Muồng truổng

Mũi mác

Mức hoa trắng

Mực mai

Mực ván

Mực nang

Mướp đắng

 

N

Nai

Nam hoàng liên

Nam ngũ vị tử

Nam pḥng kỷ

Nam sa sâm

Nam qua tử

Nam tỳ bà

Nam uy linh tiên

Náng hoa trắng

Nấm gỗ

Nấm Trường thọ

Nắm cơm

Nga truật

Ngải cau

Ngải cứu

Ngải diệp

Ngải máu

Ngải xanh

Ngành ngạch

Ngân hạnh

Nghệ

Nghệ đen

Nghệ tím

Nghể

Nghể chàm

Nghể răm

Ngó sen

Ngô

Ngô công

Ngọc mễ tu

Ngọc trúc

Ngổ núi

Ngô thù du

Nguyên sâm

Nguyên thốn hương

Nguyên tuy

Nguyễn cộng

Ngũ bội tử

Ngũ gia b́ chân chim

Ngũ gia b́ gai

Ngũ gia b́ hương

Ngũ gia hương

Ngũ linh chi

Ngũ linh tử

Ngũ vị tử

Ngư tinh thảo

Ngưu bàng tử

Ngưu cần thảo

Ngưu hoàng

Ngưu tất

Nha đam

Nha đảm tử

Nhăn

Nhân sâm

Nhân sâm Phú yên

Nhân sâm tam thất

Nhân trần

Nhân trần bồ bồ

Nhầu núi

Nhẫn đông

Nhĩ hương thảo

Nhó đông

Nhót Nhật Bản

Nhót tây

Nhũ hương

Nhục đậu khấu

Nhục thung dung

Nhựa cóc

Niễng đực

Niễng cái

Niệt gió

Nọc rắn

Nọc sởi

Núc nác

Nứa

 

O

Óc chó

Ô dược

Ô đầu-Phụ tử

Ô tặc cốt

Ô tặc ngư.

 

P

Phá cố chỉ

Phan tả diệp

Phấn tỳ giải

Phấn pḥng kỷ

Phèn chua

Phong hương diệp

Phong mật

Pḥng đảng sâm

Pḥng kỷ

Pḥng phong

Phù binh

Phụ tử chế

Phúc bồn tử

Phục linh b́

Phục thần

 

Q

Qua lâu b́

Qua lâu căn

Qua lâu nhân

Quả Chua chát

Quả giun

Quả nấc

Quả Táo mèo

Quan âm biển

Quang quả mộc miết

Quảng mộc hương

Quảng pḥng kỷ

Quảng vương bất lưu hành

Quất diệp

Quất hạch

Quất hồng

Quế

Quy bản

Qui giáp

Quyển bá

Quyển bá tràng chim

Quyển bá trường sinh

 

R

Rau bồ cóc

Rau câu

Rau dừa nước

Rau dừa trâu

Rau đắng

Rau đắng biển

Rau má

Rau mác gai

Rau mơ

Rau muối dại

Rau muống biển

Rau nghể

Rau ngoai

Rau quế

Rau sam

Rau sam trắng

Rau thơm lông

Ráng bay

Ráy

Ráy dại

Ráy gai

Ráy leo lá rách

Râu ngô

Rắn

Rắn biển

Rắn cạp nia

Rắn cạp nong

Rắn hổ mang

Rắn mai gầm

Rắn mai gầm bạc

Rắn ráo

Rẻ quạt

Rễ thổi lửa

Rết

Riềng

Riềng dại

Riềng gió

Riềng nếp

Rít

Rong mơ

Rong biển

Rùa đen

Rụt

 

S

Sa nhân

Sa sâm

Sa sâm bắc

Sà sàng

Sả

Sả chanh

Sả java

Sài đất

Sài hồ

Sài hồ lá hẹp

Sài hồ nam

Sam trắng

Sáp ong

Sau sau

Sâm báo

Sâm biển

Sâm bố chính

Sâm Cao ly

Sâm cau

Sâm đại hành

Sâm khu năm

Sâm nam

Sâm Ngọc linh

Sâm tanh tách

Sâm Việt Nam

Sâu cánh kiến

Sâu vẽ

Sầu đâu cứt chuột

Sầu đâu rừng

Sắn dây

Sen

Sẻn

Sim

Sinh địa

Sinh khương

Song biên qua lâu

Song nho Quảng Đông

Sóc bay 

Sỏi mật khô

Sơn đậu căn

Sơn dược

Sơn kê mễ

Sơn thù

Sơn thù du

Sơn thù nhục

Sơn thục

Sơn thục gai

Sơn tra

Sơn trúc tử

Sử quân tử

Sung uư tử

Sừng dê hoa vàng

Sừng tê

Sừng trâu

 

T

Tai hồng

Tam ban hải mă

Tam gia b́

Tam lăng

Tam phỏng

Tam thất

Tam thất giả

Tam thất gừng

Tam thất nam

Tầm phỏng

Tằm vôi

Tán pḥng hoa nhĩ thảo

Tang 

Tang bạch b́

Tang chi

Tang diệp

Tang kư sinh

Tang phiêu tiêu

Tang thầm

Táo mèo

Táo nhân

Táo ta

Táo tàu

Tạo giác

Tảo hưu

Tắc kè

Tắc kè đá

Tâm sen

Tầm gửi

Tầm bóp leo

Tân di

Tần giao

Tật lê

Tê giác

Tê tê

Tế tân

Tết suất thảo

Tề thái

Thạch

Thạch cao

Thạch hoàng

Thạch hộc

Thạch liên tử

Thạch lựu b́

Thạch quyết minh

Thạch vĩ đằng.

Thạch xương bồ

Thanh b́

Thanh cao

Thanh hao hoa vàng

Thanh kiều

Thanh quả

Thanh thiên quỳ

Thanh tương tử

Thanh uyển

Thành ngạch

Thài lài

Thài lài tía

Thảo đậu khấu

Thảo khấu

Thảo linh chi

Thảo ma hoàng

Thảo quả

Thảo quyết minh

Thăng ma

Thăng ma nam

Thần khúc

Thập đại công lao

Thất diệp đởm

Thất diệp nhất chi hoa

Thảo bạc

Thầu dầu

Thị đế

Thị đinh

Thị sương

Thị tất

Thích đồng

Thích gia đằng

Thích gia căn

Thích hải mă

Thích tật lê

Thiềm tô

Thiên đông

Thiên giới thái

Thiên hoa phấn

Thiên long

Thiên ma

Thiên môn

Thiên môn đông

Thiên nam tinh

Thiên niên kiện

Thiên thai ô dược

Thiên trúc hoàng

Thiết b́ thạch hộc

Thiết tảo trửu

Thỏ ty tử

Tḥng bong

Thổ bồ công anh

Thổ cam thảo

Thổ cao ly sâm

Thổ đại hoàng

Thổ hoàng liên

Thổ hào sâm

Thổ kinh giới

Thổ mộc hương

Thổ nhân sâm

Thổ phục linh

Thổ sài hồ

Thổ tam thất

Thôi ba

Thôi chanh

Thông

Thông bạch

Thông thảo

Thông thiên

Thùa

Thục địa

Thuỷ long

Thủy liễu

Thủy mă

Thuỷ ngư xác

Thuỵ thái

Thuỷ xương bồ

Thuyền thoái

Thuyền thuế

Thư hoàng

Thu tràng 5 lá

Thừng mực

Thược dược

Thương lục

Thương nhĩ tử

Thương truật

Thường sơn

Thường xuân

Thường xuân đằng

Tía tô

Tiên hạc thảo

Tiên mao

Tiên sơn dược

Tiền hồ

Tiền hồ hoa tía

Tiền hồ hoa trắng

Tiêu sơn dược

Tiểu hồi

Tiểu hắc tam lăng

Tiểu kinh giới

Tiểu lư bạch

Tiểu Mộc thông

Toả dương

Toan táo

Toan táo nhân

Toàn trùng

Toàn yết

Tóc tiên leo

Tỏi

Tỏi đỏ

Tỏi lào

Tỏi lơi lá rộng

Tô diệp

Tô mộc

Tô ngạnh

Tô tử

Trạch tả

Trà

Trà diệp

Tràm

Trắc bách

Trắc bách diệp

Trầm dó

Trần b́

Tràng quả đẹp

Trầm hương

Trân châu diệp

Trâu cổ

Trầu cay

Trầu không

Trầu lương

Tri mẫu

Triết bối mẫu

Trinh nữ

Trinh nữ hoàng cung

Tre xanh

Trôm

Trôm hôi

Truật nam

Trúc đào

Trúc lịch

Trúc nhự

Trung gian ma hoàng

Trùng thảo

Trường sinh thảo

Trưởng bất lăo

Trư linh

Trữ ma căn

Tú cầu đằng

Tục đoạn

Tùng hương

Tùng lam

Từ bi

Tử binh

Tử uyển

Tỳ bà

Tỳ bà diệp

Tỳ giải

 

U

Uy linh tiên

 

V

Vải

Ván đất

Vàng đắng

Vàng la

Vàng lồ

Vân mộc hương

Vân pḥng phong

Vẩy ốc

Vẩy rồng

Vinh quang rực rỡ

Viên sâm

Viễn chí

Viễn chí lá nhỏ 

Viễn chí Xiberi

Vỏ doăn

Vỏ hà

Vỏ hàu

Vỏ quưt

Vỏ sữa

Vợt gai

Vối

Vối rừng

Vông nem

Vông vang

Vù hương

Vừng

Vương bất lưu hành

Vương thái tô

 

X

Xa tiền

Xa tiền thảo

Xa tiền tử

Xà thoái

Xạ can

Xạ đen

Xạ hương

Xá xị

Xác rắn

Xác ve sầu

Xích đồng nam

Xích hoa xà

Xích phục linh

Xích thược

Xích truật

Xoan Ấn độ

Xoan chịu hạn

Xoan đào

Xoan leo

Xoan rừng

Xộp

Xuy hỏa căn

Xuyên bạch chỉ

Xuyên bối mẫu

Xuyên khung

Xuyên phá thạch

Xuyên pḥng phong

Xuyên sơn giáp

Xuyên tâm liên

Xuyên tiêu

Xương bồ

Xương nhĩ

Xương rồng bà

Xương rồng ống

 

Y

Ư dĩ

Ư dĩ Bắc

Yếm rùa

Yết tử

Yết vĩ

 

 

 

A

Áp xông kềm

(Bồ công anh)

 

B

Bà khào piêu

(Đào)

Bièn ong

(Ba chạc)

Bón jắp

(Bán hạ)

Búng súi mía

(Ṃ trắng)

 

C

Cà đắng ím

(Cà độc dược)

Cà đắng láng

(Cà gai leo)

Cà đăng quắm

(Cà đinh)

Cà ngái ḍi

(Bách hợp)

Cà nhúng

(Ké đầu ngựa)

Cà tang mây

(Sắn dây)

Câm sô

(Cam thảo đất)

Cam thảo

(Cam thảo dây)

Cán chây mía

(Cỏ lào)

Cần phân

(Tía tô)

Cành sàn chầu

(Nhựa cóc)

Cảnh thi pè

(Bách bộ)

Cảnh thi pe

(Bạch đồng nữ)

Cây lông khỉ

(Cẩu tích)

Chàm dàng

(Bách bộ)

Chay gláng

(Ba kích)

Chày kiàng đ̣i

(Ba kích)

Chè bà đẻ

(Ba chạc)

Chề gay siết mày

(Mơ lông)

Chè im

(Chè đắng)

Chè láng

(Chè dây)

Chía

(Quế)

Chiều đủ

(Gai)

Chồi hoàng kim

(Ba kích)

C̣ lo quấn

(Mía ḍ)

C̣ nhỏ mia

(Đảng sâm)

Cồ puốt ṇm xí

(Mơ lông)

Củ gà ấp

(B́nh vôi)

Cù gai sa

(Kinh giới núi)

Cù ĺnh sinh

(Hoàng tinh)

Cù me

(Ngô)

Cú mua mia

(Diếp cá)

Cù mua mía

(Diếp cá)

Cù pun đin ma

(Cà độc dược)

Cùm đạn kiềm

Dứa dại)

 

D

Dám chùa

(Nhân trần)

Dầm dả

(Bạc hà)

Dáng chang

(Nghệ)

Dáng chang chia (Nghệ đen)

Dáng in

(Thuốc phiện)

Dàng nểu

(Lá ngón)

Dàng tang

(Dây tơ hồng)

Dáng tàng

(Hoàng liên Ô rô)

Dầu ve

(Thầu dầu)

Dây mốc

(Hà thủ ô trắng)

Dềnh dáng

(Núc nác)

Diêm tập

(Thảo quyết minh)

Diên suy

(Cây mùi)

D́m tíu

(Câu đằng)

D́m túi

(Câu đằng)

Dùa mia

(Gai)

 

Đ

Đạt ch́a

(Cốt toái bổ)

Đạt ch́g

(Cốt toái bổ)

Đèng dáng

(Núc nác)

Đi poang

(Thầu dầu)

Đ́a diu

(Xạ can)

Đ́a tả piếc

(Gấc)

Điều là

(Hương nhu trắng)

Đù mào siam

(Thiên môn)

 

E

Ep cháu náo mía

(Cỏ xước)

 

G

Gan

(Cỏ tranh)

Gang im

(Rau đắng)

Gáy no

(Bồ công anh thấp)

Gáy tùng pan

(Bồ công anh)

Gháng đáng

(Cây mùi)

Giè

(Hươu nai)

Gụi

(Cối xay)

 

H

Hà ngù

(Cỏ xước)

Hán phông mia

(Cứt lợn)

H́a đoái

(Củ mài)

H́a ḍi

(Củ mài)

H́a hẩu ton

(Thiên niên kiện)

H́a kia piếu

(Cà độc dược)

H́a phàm siết

(Bảy lá một hoa)

H́a pḥng déo

(Dứa dại)

H́a phún

(Náng hoa trắng)

H́a xú xan

(Cỏ mần trầu)

Hộc quyết

(Cốt toái bổ)

Hông bong

(Ḅng bong)

Hống mẩu đoái

(B́nh vôi)

 

I J

In byệt

(Đại bi)

Jăn da

(Bạc hà)

Jdiêu kềm

(Dứa dại)

 

K

Ka lạng

(Bồ cu vẽ)

Kẻng qua

(Bí đỏ)

Kẻng qua wàng

(Bí ngô)

Kháo

(Cốt toái bổ)

Kháo đùng

(Cẩu tích)

Khôm cam thảo dây (Cam thảo dây)

Khôm chà miệt

(Chè)

Khôm chà miệt im (Chè đắng)

Khôm chai chàng

(Ba kích)

Khôm hành

(Hành)

Khôm hào cỏ

(Bạch đậu khấu)

Khôm kiềm tíu meng (Câu đằng)

Khôm kín chin đói (B́nh vôi)

Khôm ḱn chin đ̣i (B́nh vôi)

Khôm mác ché va

(Cà đinh)

Khôm mặc mọn

(Dâu tằm)

Khôm mác phường (Khế)

Khôm mai

(Ngô)

Khôm mủa jḍm (Bướm bạc)

Khôm nhái

(Ḅng bong)

Khôm nhum xi

(Bí ngô)

Khôm nhùng biệt

(Núc nác)

Khôm ṇ a mè

(Cao lương)

Khôm phắc pát

(Lá lốt)

Khôm x́ tổ

(Gấc)

Khuông zhả

(Nghệ đen)

Ko phắt ṇm

(Mơ lông)

Kzo hi đúp

(Quế)

 

L

Là háo

(Thảo quả)

Lai ding

(Diếp cá)

Lai im

(Rau đắng)

Lai ngơi

(Ngải cứu)

Lai tạt

(Mướp đắng)

Làng gỗ

(Bạch đồng nữ)

Làng gọng

(Chút chít)

Làng lióng

(Chút chít)

Lang may manh

(Bồ công anh thấp)

Lang may pe

(Bồ công anh)

Lảu ṇm

(Lá lốt)

Lày máy ḱm

(Bồ công anh)

Lè cỏ

(Bạch đậu khấu)

Lúng ngoái

(Ngải cứu)

 

M

Mà chin peo

(Mă tiền)

Ma đỉnh

(Diếp cá)

Má piên seo

(Cỏ roi ngựa)

Ma wây

(Địa liền)

Mạn đà la

(Cà độc dược)

Mẹ lu

(Ư dĩ)

Mía đang

(Cây mùi)

Ḿa nhe

(Trinh nữ)

Ḿa phing

(Bạc hà)

Mồi pùng mia

(Ích mẫu)

Mọt hoi đ̣i

(Thổ phục linh)

Muồng ḥe

(Thảo quyết minh)

 

N

Nằn phong

(Dâu tằm)

Náng

(Rắn)

Nàng chầy mía

(Mă đề)

Nằng cháy mía

(Mă đề)

Năng gaom tầm dè (Cây cơm cháy)

Nàng pía hẩu

(Củ chóc)

Ngùng mia

(Cỏ mần trầu)

Nhải cù viằng

(Cẩu tích)

Nhè đoái

(Cát căn)

Nhê piêu

(Cát căn)

Nhề si

(Cẩu tích)

Nhi nâu à phẳng

(Bảy lá một hoa)

Nhum xi

(Bí đỏ)

Ṇm piàng sia ṇm (Bảy lá một hoa)

Nụ ma noi ma

(Lá ngón)

 

P

Pà tạt

(Mướp đắng)

Pạ tạt

(Mướp đắng)

Pau pé

(Đậu ván trắng)

Pèo cào

(Đào)

Phác chỉ

(Cây mùi)

Phàm sây sang

(Mỏ quạ)

Phiếu kiào

(Đào)

Phù nhim

(Bí ngô)

 

Q

Quả long

(Lạc tiên)

Quả lúi

(Mướp đắng)

Quắn chầu

(Nhựa cóc)

 

R

Ruột gà

(Ba kích)

 

S

Sam sả ria

(Ba chạc)

Sán công mía

(Dạ cẩm)

San sá ỉa

(Ba chạc)

Sàng pầu muổn (Xương bồ lá nhỏ)

Sáng viằng

(Cốt toái bổ)

Sáo u

(Ô đầu - Phụ tử)

Sèng chia lăn

(Mần tưới)

Slùng đeng

(Thầu dầu)

Song

(Hành)

Sông

(Hành)

Sụ phim

(Thông thảo)

Sun tẩy poang

(Hà thủ ô đỏ)

Sung

(Gừng)

Sung choang hậu (Nghệ đen)

Sung choang joàng (Nghệ)

 

T

Ta cú mía

(Hy thiêm)

Tá pù sù

(Thuốc bỏng)

Tầm dề

(Cây cơm cháy)

Tầm d́m cong

(Thổ phục linh)

Tào chồm chầu

(Nhựa cóc)

Tập bẩy bẹ

(Đậu ván trắng)

Tầu púa sung

(Thuốc bỏng)

Thàn heng đéng

(Trầm hương)

Thật mía

(Hương phụ)

Thín hồng mía

(Cỏ xước)

Tở lùng ḍi

(B́nh vôi)

Tổ phương

(Cốt toái bổ)

Tóng

(Hành)

Tộp pè

(Đậu ván trắng)

Trà kinh

(Bướm bạc)

Túng bều

(Bèo cái)

Tùng cây pâu

(Bỏng nổ)

Tung gai xa meng (Kinh giới)

Tùng gháy

(Hương phụ)

Tùng ghen

(Khế)

Tùng gọi

(Củ mài)

Tùng mây

(Ngô)

Tùng nghin

(Bách bộ)

Tùng pên giáng

(Núc nác)

Tùng plâu pe

(Bướm bạc)

Tùng tặp đ̣ng

(Mộc tặc)

Tùng wằng

(Dây tơ hồng)

 

X

Xa cháng sao

(Long nha thảo)

Xạ ú pẹ

(Hà thủ ô trắng)

Xạ ú sí

(Hà thủ ô đỏ)

Xành phong

(Dâu tằm)

X́nh pầu chú

(Thạch xương bồ)

 

 

 

TRA CỨU CÂY THUỐC THEO PHIÊN ÂM TIẾNG DÂN TỘC THÁI 

 

B  C  H  K  M  N  P S X

B

Bẳn mắn kéo

(Sắn dây)

Bẳn sam síp

(Bách bộ)

 

C

Cảng pa

(Bỏng nổ)

Cây gan

(Sơn tra)

Chạ linh lo

(Ích mẫu)

Chẩu phóng xì

(Ba kích)

Che

(Ba chạc)

Chè khôm

(Chè đắng)

Chè khum

(Chè đắng)

Chua chát

(Sơn tra)

Chừa giang khằm (Kim ngân)

Chừa ma sin

(Hà thủ ô trắng)

Co bên kho

(Mă tiền)

Co bóong bo

(Hy thiêm)

Co ca liên

(Núc nác)

Co cáy khẩu

(B́nh vôi)

Co chạy đón

(Khổ sâm)

Co che

(Chè)

Co che khôm

(Chè đắng)

Co cut

(Cẩu tích)

Co cút kho

(Bồ công anh)

Co cut kho

(Ḅng bong)

Co cút pá

(Cẩu tích)

Co dọng danh

(Bưởi bung)

Co đươi

(Ý dĩ)

Co hán han

(Hoàng tinh)

Co hem

(Nghệ)

C̣ hom

(Cây mùi)

Co hồng tiên

(Lạc tiên)

Co húng hóm

(Thầu dầu)

Co khà

(Cỏ tranh)

Co khản min

(Nghệ)

Co khi cấy

(Ba kích)

Co khi lươn

(Chó đẻ răng cưa)

Co khinh

(Gừng)

Co khoắn nheng (Thuốc phiện)

Co lạc khem

(Hoàng đằng)

Co lạc quân

(Náng hoa trắng)

Co linh li

(Ngải cứu)

Co má khưa  pha

(Cà đinh)

Co ma lang

(Chút chít)

Co ma thia pép

(Đậu ván trắng)

Co nam slư

(Ngũ gia b́ gai)

Co nát

(Đại bi)

Co nhả dòi

(Đảng sâm)

Co nhả hút

(Cỏ mần trầu)

Co nhả ka

(Cỏ tranh)

Co nhả lìn ngu

 (Cỏ xước)

Co nha póp

(Rau dừa nước)

Co nim

(Sim)

Co ỏi khang

(Huyết giác)

Co phất phứ

(Mần tưới)

Co pong pi

(Ṃ trắng)

Co púng pinh

(Xích đồng nam)

Co quat phi

(Xạ can)

Co sam sa

(Sơn tra)

Co sin sương

(Thiên môn)

Co tan

(Ngũ gia b́ chân chim)

Co tang tó

(Cốt toái bổ)

Co tào

(Đào)

Co tin pất

(Cây sữa)

Co tó ép

(Cối xay)

Co tồng péc

(Trắc bách)

Co toóng lang

(Vông nem)

Co tốt ma

(Mơ tam thể)

Co tràm

(Tràm)

Co ú tàu

(Ô đầu - Phụ tử)

Co ướng bôn

(Mía dò)

Co vàng sào

(Thạch hộc)

Co vát

(Ráy)

Co vầy mèo

(Diếp cá)

Co xá choóng

(Địa liền)

Cừa ly sinh

(Thổ nhân sâm)

 

H

Hạc co pán

(Gai)

Hậu khá

(Riềng)

Hom

(Hành)

Hom búa lượt

(Sâm đại hành)

Hom chi

(Cây mùi)

Hom đeng

(Tía tô)

Hom hốt

(Bạc hà)

Hom kia

(Tỏi)

 

K

Ka day

(Ba kích)

Kén má cai

(Đào)

Khỉ bẻ

(Ba kích)

Khinh chơ năm

(Thạch xương bồ)

Khua lình

(Hà thủ ô đỏ)

Khứa nam

(Cà gai leo)

Kíp pá

 (Bách hợp)

 

M

Má khấu

(Gấc)

Má khẩu li

(Ngô)

Má khứa

(Cà đinh)

Má khưa chưa

(Cà gai leo)

Má pẩu đóm

(B́nh vôi)

Má pheng

(Mơ)

Má tẩu đón

(B́nh vôi)

Má thố pép

(Đậu ván trắng)

Ma thúa pép

(Đậu ván trắng)

Má thúa pép

(Đậu ván trắng)

Má ứ

(Bí đỏ)

Mác háu

(Thảo quả)

Mán địn

(Củ mài)

 

N

Ne

(Bèo cái)

Nhá cá

(Cỏ tranh)

Nhả cha chát

(Cỏ nhọ nồi)

Nhả én dứt

(Mă đề)

Nhả khuôn mu (Hương phụ)

Nhả lá mứn

(Thảo quyết minh)

Nhả mực noi

(Cỏ sữa lá nhỏ)

Nhả nâm mòn

(Cỏ sữa lá nhỏ)

Nhả nát hom

(Kinh giới)

Nùm nèn

(Ḅng bong)

 

P

Pẩu cút

(Cẩu tích)

Phắc cát ngàn

(Chút chít)

Phắc châu

(Sả)

Póngpi

(Ṃ trắng)

 

S

 Sày cáy

(Ba kích)

 

X

Xuốn pha

(Bách hợp)

 

 

 

TRA CỨU CÂY THUỐC THEO PHIÊN ÂM TIẾNG DÂN TỘC CHĂM

 

 

B  C  D 

I  J  K  L  M 

N  Q 

R  S  X  Y

 

B

Ba gạc

(Ba gạc)

Ba kích

(Ba kích)

Bạc hà

(Bạc hà)

Bách bộ

(Bách bộ)

Bạch hoa xà

(Bạch hoa xà)

Bách hợp

(Bách hợp)

Bán hạ

(Bán hạ)

Bồ công anh

(Bồ công anh)

Bồ cu vẽ

(Bồ cu vẽ)

Bồ đề

(Bồ đề)

Bọ mẩy

(Bọ mẩy)

 

C

Cà độc dược

(Cà độc dược)

Cà gai leo

(Cà gai leo)

Cam thảo đất

(Cam thảo đất)

Cam thảo dây

(Cam thảo dây)

Cánh kiến trắng

(Cánh kiến trắng)

Câu kỷ

(Câu kỷ)

Cẩu tích

(Cẩu tích)

Cây con khỉ

(Xuân hoa)

Cây dấm

(Vông vang)

Cây gỏi cá

(Đinh lăng)

Cây nổ

(Cây nổ)

Cây sứ hoa trắng (Đại)

Chắk mao

(Huyết giác)

Chân chim

(Ngũ gia b́ chân chim)

Chanh

(Chanh chua)

Chó đẻ răng cưa

(Chó đẻ răng cưa)

Chua ngút

(Chua ngút)

Cỏ lào

(Cỏ lào)

Cỏ roi ngựa

(Cỏ roi ngựa)

Cơm rượu

(Cơm rượu)

Cốt khí củ

(Cốt khí củ)

Củ gấu

(Hương phụ)

Củ mài

(Củ mài)

Cúc hoa vàng

(Cúc hoa vàng)

Cúc tần

(Cúc tần)

 

D, Đ

Dạ cẩm

(Dạ cẩm)

Đại bi

(Đại bi)

Dâm bụt

(Dâm bụt)

Đẳng sâm

(Pḥng đẳng sâm)

Dâu tằm

(Dâu tằm)

Đậu ván trắng

(Đậu ván trắng)

Dây chiều

(Dây chiều)

Dây lạc tiên

(Lạc tiên)

Diếp cá

(Diếp cá)

Diệp hạ châu

(Diệp hạ châu)

Đỗ trọng

(Đỗ trọng nam)

 

H

Hạ khô thảo

(Hạ khô thảo)

ha rớk chài

(Cỏ mần trầu)

Ha rớt chà liền

(Kim tiền thảo)

Hà thủ ô đỏ

(Hà thủ ô đỏ)

Hà thủ ô trắng

(Hà thủ ô trắng )

Hala mưng gây thang (Chùm ngây)

Hala phunh tạo

(Vông nem)

Hành

(Hành)

Harêk kirah

(Kê huyết đằng)

Harék kumo

(Kê huyết đằng)

Harếk nhik

(Hoàng đằng lá to)

Harớk đàn

(Dây đau xương)

Harớk éh thay la prông

(Cỏ sữa lá nhỏ)

Harơk Ehthay pala prong

(Cỏ sữa lá lớn)

Harơk la crưm

(Cỏ lá tre)

Harớk tằng

(Cỏ nhọ nồi)

Hồ tiêu

(Hồ tiêu)

Ḥe

(Hoè)

Hồng

(Hồng)

Huyết dụ

(Huyết dụ)

Hy thiêm

(Hy thiêm)

 

I, J

Ích mẫu

(Ích mẫu)

Jia đam

(Lô hội)

 

K

Ka pắk klài

(Bạch đồng nữ)

Ké hoa đào

(Ké hoa đào)

Khế

(Khế)

Khổ sâm

(Khổ sâm)

Kim anh

(Kim anh)

Kim ngân

(Kim ngân)

 

L

Lá bỏng

(Sống đời)

Long năo

(Long năo)

 

M

Mă đề

(Mă đề)

Mắc cỡ

(Trinh nữ)

Mạch môn

(Mạch môn)

Mạn kinh tử

(Mạn kinh tử)

Màng tang

(Màng tang)

Mào tố đắk

(Củ gió đất)

Màu vàng

(Dây tơ hồng)

Mía ḍ

(Mía ḍ)

Mộc thông

(Mộc thông)

Mức hoa trắng

(Mức hoa trắng)

Muồng trâu

(Muồng trâu)

 

N

Nam bán hạ

(Ráy)

Náng hoa trắng

(Náng hoa trắng)

Nghể răm

(Nghể)

Ngù mần núk kó (Mào gà trắng)

Nhajăm pàlồn

(Rau sam)

Nhăn

(Nhăn)

Nhân trần

(Nhân trần)

Nhjăm pày trâu

(Sâm nam)

Nhjiăm pônh thih

(Rau muống biển)

Núc nác

(Núc nác)

Nưng

(Cau)

 

O

Oân chiên

(Quế)

 

P

Pa thunh phồn

(Sâm đại hành)

Phen lan ḱ rồi

(Ngũ gia b́ gai)

Phunh (dràng) nhràng (Thông thảo)

Phunh chakhek klài (Dứa dại)

Phunh che

(Chè)

Phunh chjồng

(Hoàng kỳ nam)

Phunh eh pùi

(Cây cứt lợn)

Phunh eh theh

(Kinh giới)

Phunh hala ḱnhàng (Hoàng tinh)

Phunh hala prụk

(Mơ lông)

Phunh jia púk

(Ké hoa vàng)

Phunh jia rắk

(Bồng bồng)

Phunh kachắk

(Bạch tật lê )

Phunh kachak mao (Huyết giác)

Phunh kalai

(Vối)

Phunh kaĺm bôn (Lựu)

Phunh katá kài tượh  (Cây mỏ quạ)

Phunh Khàlan

(Cỏ tranh)

Phunh kọh chặk

(Chè vằng)

Phunh kok theh

(Ké đầu ngựa)

Phunh ku kú

(Cẩu tích)

Phunh li u tanưh

(Dừa cạn)

Phunh mực

(Cỏ xước)

Phunh mưlâu

(Trinh nữ)

Phunh nhao thang (Nhàu)

Phunh nhik

(Nghệ)

Phunh nhjăm ya klài (Tầm phỏng)

Phunh nhjăm ya (Mướp đắng)

Phunh pạch

(Vú ḅ)

Phunh pang

(Tô mộc)

Phunh patuk lóah

(Lá lốt)

Phunh plăng

(Sả)

Phunh pơ

(Cối xay)

Phunh pọ tẻo

(Mỏ quạ)

Phunh pọh tô

(Bồ kết)

Phunh soong

(Mơ tam thể)

Phunh tà ngù nứ kók (Kiến c̣)

Phunh tá pùi

(Cốt khí củ)

Phunh tà rặh

(Bạc thau)

Phunh tăk tjặk

(Lức)

Phunh talang kal (Hoàng liên gai)

Phunh tâm ngư lo (Thầu dầu)

Phunh tây thânh (Chuối hột)

Ṕ ngù u

(Bông ổi)

Pọ prai

(B́nh vôi)

Pọh ku kun

(Thổ phục linh)

Poh mưtành thang (Táo ta)

Poh plôi

(Bí ngô)

 

Q

Quả giun

(Quả giun)

Qua lâu

(Qua lâu)

Quưt

(Trần b́)

 

R

Rau má

(Rau má)

Ráy gai

(Ráy)

Ráy leo lá rách

(Ráy leo lá rách)

 

S

Sa nhân

(Sa nhân)

Sắn dây

(Săn dây)

Sau sau

(Sau sau)

Sữa

(Sữa)

 

T

Takei chim

(Ngũ gia b́ chân chim)

Tầm phỏng

(Tầm phỏng)

Thạch xương bồ (Thạch xương bồ)

Thanh hao hoa vàng (Thanh hao hoa vàng)

Thănh ka krẹp

(Keo giậu)

Thanh mo chụk

(Nga truật)

Thảo quả

(Thảo quả)

Thảo quyết minh (Thảo quyết minh)

Thiên niên kiện

(Thiên niên kiện)

Thuốc cứu

(Ngải cứu)

Tía tô

(Tía tô)

Tóc tiên phunh pọh ṕ (Thiên môn)

Tỏi

(Tỏi)

Trạch lan

(Mần tưới)

Trâu cổ

(Trầu cổ)

Trinh nữ hoàng cung (Trinh nữ hoàng cung)

 

X

Xích đồng nam

(Xích đồng nam)

Xuyên tiêu

(Xuyên tiêu)

 

Y

Ư dĩ

(Ư dĩ)

 

TRA CỨU CÂY THUỐC VỊ THUỐC THEO PHIÊN ÂM TIẾNG DÂN TỘC H'MONG

 

 

A  B  C  D  G  H  K  L  M  N  O  P  Q  R  S  T  X  Y  Z

 

 

A

Á cur po

(Nhựa cóc)

Ao xia

(Nghệ)

B

Bắt bum

(Cỏ gấu)

Bắt bung

(Cỏ mực)

Bê bơ

(Ư dĩ)

Bia ká

(Xương bồ lá nhỏ)

Bo

(Tô mộc)

Bong tua cao

(Thuốc bỏng)

Bú cu

(Câu đằng)

Bum yen

(Sắn dây)

 

C

Ca hu

(Đại bi)

Ca hu

(Đảng sâm)

Cang hô

(Đảng sâm)

Cang lẩu

(Dâu tằm)

Cau can hù

(Đảng sâm)

Câu gừng

(Củ mài)

Cau kềnh

(Củ mài)

Cẩu lẩu lía

(Hà thủ ô đỏ)

Cau lở lía

(Hà thủ ô đỏ)

Cau pe chầu

(Bạc hà)

Cấu

(Hươu nai)

Cay bê bâu

(Ư dĩ)

Cay dênh đấu

(Ư dĩ)

Cha

(Gừng)

Chá lặng

(Mần tưới)

Cha nhuông

(Riềng)

Cha tsa

(Hy thiêm)

Chàng 

(Gai)

Chệ

(Cao lương)

Che đàng

(Nghệ đen)

Chế lừ cu

(Cà độc dược)

Chểnh tŕu ia 

Chè đắng)

Chểnh trùa

(Chè)

Chi cau dua

(Lạc tiên)

Chí cau dua

(Lạc tiên)

Chí chủa tâu chè (Gấc)

Chí chua tho ma

(Lạc tiên)

Chi chung

(Cau)

Chí chung cay

(Thầu dầu)

Chí cống

(Sa nhân)

Chí cú

(Sa nhân)

Chí dùa

(Đào)

Ch́ đua

(Đào)

Chí đùa

(Đào)

Chí hé

(Xuyên tiêu)

Chí hơ

(Thảo quả)

Chi ki á

(Mướp đắng)

Chi la dù

(Bạc hà)

Chí lợ pua

(Khôi)

Chí ṃ sài

(Đại thanh)

Ch́ ṃ xai

(Cây cơm cháy)

Chi ṃ xăng

(Lạc tiên)

Chí ṃ xăng

(Lạc tiên)

Chí pù

(Cà gai leo)

Ch́ pù đu

(Cà đinh)

Ch́ pù lớ tơr

(Bạch đồng nữ)

Chí pú lu cù

(Dứa dại)

Chí pu lu đu

(Dứa dại)

Chí pu lụ đu

(Dứa dại)

Chí pú lù rua

(Dứa dại)

Chi quờ x́

(Bướm bạc)

Chí rua

(Cát căn)

Chí só cú

(Thảo quả)

Chí sua

(Cát căn)

Chí tào di

(Táo mèo)

Chí tau chia

(Thổ phục linh)

Chi ti tớ

(Lạc tiên)

Chí t́ tớ

(Lạc tiên)

Chí to di

(Táo mèo)

Chi tớ tạng

(Núc nác)

Ch́a co

(Diếp cá)

Chinh dệ hạ

(Xạ can)

Chọ chau tro

(Hy thiêm)

Cho cḥ ṛ

(Mắc cỡ)

Cḥ lia

(Cỏ lào)

Cho trư xa

(Cà độc dược)

Cho tư x́

(Cứt lợn)

Cḥ và má lia

(Cỏ lào)

Chừ gia dính

(Thuốc phiện)

Chứ xá

(Xuyên tiêu)

Chua

(Cam toại)

Chua

(Cao lương)

Chua cang lua

(Cỏ roi ngựa)

Chụa cu nhia

(Kinh giới núi)

Chùa dê

(Chè)

Chùa hau

(Nhân trần)

Chua khu

(Bạch hoa xà)

Chua lu tran

(Dây tơ hồng)

Chua mo nhù kia

(Địa liền)

Chua p̣ dê

(Móng lưng rồng)

Chua po kư

(Náng hoa trắng)

Chúa tùa

(Lá ngón)

Chua tua

(Thuốc bỏng)

Chưng chùa

(Chè)

Chung lia

(Huyết dụ)

Cí lầu câu

(Đảng sâm)

C̣ chú c̣m phông (Thiên nam tinh)

m

(Tiểu hồi)

C̣ chua dê

(B́nh vôi)

Co cứ dúa chè (Hoàng tinh)

Co cứ dúa cù

(Hoàng tinh)

Cỏ lẩu la

(Hà thủ ô đỏ)

C̣ le

(Bán hạ)

C̣ li xinh

(Thổ nhân sâm)

C̣ plông

(Thiên nam tinh)

Cố y

(Ô đầu - Phụ tử)

Cụ cạnh

(Mía ḍ)

Cu i

(Ô đầu - Phụ tử)

Củ nhẩu

(Cỏ mần trầu)

Cu tư

(Câu đằng)

Cua ho

(Cúc hoa vàng)

Cua ia

(Ô đầu - Phụ tử)

Cua mù súa

(Móng lưng rồng)

Cua tu nhống

(Lá ngón)

Cua tua

(Lá ngón)

Cưng chưa ia

(Chè đắng)

 

D

Dà dênh

(Thuốc phiện)

Dâu cang

(Dâu tằm)

Dê sùa tùa

(Kinh giới núi)

Dênh dầu

(Ư dĩ)

Dênh Tzi cù

(Thuốc phiện)

Di chùa cù

(Bồ kết)

Di chủa củ

(Bồ kết)

Dí hờ

(Thảo quả)

Di ia

(Mướp đắng)

Di ́a

(Mướp đắng)

Do cang

(Dâm bụt)

Ḍ dê

(Chó đẻ răng cưa)

Ḍ pạ

(Cỏ nhọ nồi)

Ḍ xê

(Chó đẻ răng cưa)

Đầu vù

(Tục đoạn)

Đê chua

(Huyết giác)

Đo chua dê

(B́nh vôi)

Đo đ̣

(Hành)

Đo kang

(Củ mài)

Đ̣ le

(Sâm đại hành)

Đ̣ lia

(Sâm đại hành)

Đo lở la

(Hà thủ ô đỏ)

Đo lớ xếnh

(Thổ nhân sâm)

Đ̣ trạng

(Mộc tặc)

Đo trông

(Đảng sâm)

Đo trú

(Ráy)

Đóng khía

(Bạch đậu khấu)

G

Ganh

(Cỏ tranh)

Ghánh

(Cỏ tranh)

Giè sung

(Ba gạc)

Giỗng

(Cốt toái bổ)

H

Ha bâo phôm

(Mơ lông)

Ha chăr

(Ngư tinh thảo)

Ha gữn

(Ngải cứu)

Ha nuộc

(Từ bi)

Ha nuốt

(Lá lốt)

Ho cù

(Long nha thảo)

Hoàng lực

(Xuyên tiêu)

Hu pèo đê

(Bèo cái)

K

Ka

(Nhựa cóc)

Ka chi đe

(Mía ḍ)

Ká tràu

(Diếp cá)

Kau giống

(Củ mài)

Kau trú

(Ráy)

Kây chùa

(Huyết giác)

Kệ

(Hành)

Kệch

(Tỏi)

Kềnh

(Cỏ tranh)

Kềnh

(Ư dĩ)

Khau lị chùa

(Thường sơn)

Khâu nề

(Rau má)

Khâu pàng giằng (Hoàng liên gai)

Khé

(Gừng)

Khé đá

(Nghệ)

Khé đàng

(Nghệ đen)

Khé đu

(Nghệ)

Khía

(Gừng)

Khía đa

(Nghệ)

Khía dàng

(Nghệ)

Khía đẳng

(Nghệ)

Khía đu

(Nghệ đen)

Khía kàng

(Nghệ)

Khía xía pí

(Nghệ đen)

Khứ khừ

(Hoàng tinh)

Ki ía

(Mướp đắng)

Kia

(Nhựa cóc)

Kơ mang đia

(Bạc sau)

Kống d́

(Riềng)

Ku kù

(Hoàng tinh)

 

L

Lan kua

(Bí ngô)

Lăng

(Sả)

Lẳng gua

(Bí đỏ)

Lằng tư

(Thiên niên kiện)

Lấu tù lo

(Náng hoa trắng)

Lo và

(Rau má)

Lừ đu

(Cà đinh)

Lưỡng diện trâm (Xuyên tiêu)

 

M

(Gai dầu)

(Gai mèo)

Mả

(Gai mèo)

Ma song

(Sắn dây)

Ma sồng c̣

(Sắn dây)

Ma va di

(Cam thảo dây)

(Gai dầu)

Man sà

(Thương lục)

Mạng

(Gai dầu)

Màng

(Gai mèo)

Màng can

(Dây tơ hồng)

Mang cang

(Dây tơ hồng)

Màng chi cúa

(Mơ lông)

Mang chư đua nhe (Mơ lông)

Màng song

(Cát căn)

Mha đơ

(Ṃ trắng)

Mi tếnh nhung

(Thiên niên kiện)

Mo

(Cao lương)

Mo đăng di

(Ngọc trúc)

Ṃ háng đơ

(Ṃ trắng)

Ṃ lư

(Hươu nai) 

Ṃ xay

(Cây cơm cháy)

N

Ná chua cù

(Kinh giới núi)

Náng lia

(Tía tô)

Nhi chua

(Móng lưng rồng)

Ntoog tang

(Núc nác)

Nyai tăt

(Râu ngô)

 

O

O sử lền

(Củ mài)

P

Pa đăng

(Cỏ mần trầu)

Pa hu tra

(Móng lưng rồng)

Pá mát

(Kim ngân)

Pai dyăm hủng

(Kim ngân)

Pai dyăm hủng

(Tía tô)

Pai hăng

(Bạc hà)

Pai tăng

(Chi tử)

Pan dơ chia

(Bạch đồng nữ)

Pan zơnhi

(Cây cơm cháy)

Pào mang

(Thổ phục linh)

Pê chau chà

(Bạc hà)

Pê chẩu chàng

(Bạc hà)

Pê châu chăng

(Bách bộ)

Pê chơu chà

(Bạc hà)

Pha lênh

(Ô đầu - Phụ tử)

Phá ĺnh

(Thổ hoàng liên)

Phà ĺnh

(Thổ hoàng liên)

Phẳng khú

(Ba chạc)

Phên pháng

(Đại bi)

Pó cảo

(Tắc kè)

Pờ cay

(Xương bồ lá nhỏ)

Po cừ

(Ngô)

Pó cư

(Ngô)

P̣ cu nhù

(Câu đằng)

Pờ dê

(Xương bồ lá nhỏ)

Pơ hơ

(Bạc hà)

Pong chớ chê đia (Bạch đồng nữ)

Pủ hu

(Ba chạc)

Pu hu

(Bạc hà)

Pù hú

(Bạc hà)

Pủ hu

(Bạc hà)

Pum hu

(Ba chạc)

 

Q

Quá sú

(Ngải cứu)

Quấn tớ

(Niệt dó)

R

Rau a ku

(Bồ công anh)

Rau bai đê

(Bèo cái)

Rau ca

(Dâu tằm)

Rau ca trầu

(Diếp cá)

Rau cang

(Dâu tằm)

Rau cê

(Lá lốt)

Rau cháu nềnh

(Rau má)

Rau chí

(Cây mùi)

Rau chơ

(Diếp cá)

Rau chư cha

(Mơ lông)

Rau chư pau

(Mơ lông)

Rau đé

(Mơ lông)

Rau dé

(Mơ tam thể)

Rau dừ bua

(Mă đề)

Rau dum bua

(Mă đề)

Rau kênh

(Cốt toái bổ)

Rau kia ĺa

(Mă đề)

Rau nù chinh

(Kinh giới núi)

Rau phai năng

(Bồ công anh)

Rau rau

(Diếp cá)

Rau trầu

(Diếp cá)

Rau trơ ia

(Diếp cá)

Rau x́ bùa

(Mă đề)

Reh ya

(Cỏ tranh)

Ṛ cḥ ṛ

(Mắc cỡ)

Ṛ chưa sia

(Cứt lợn)

Ṛ khâu

(Cỏ roi ngựa)

Ṛ lẩu lia

(Hà thủ ô trắng)

 

S

Sà chim róng

(Nhân sâm)

Sa dênh đơ

(Đại bi)

Sát chử

(Tam thất)

Sơn tiêu

(Xuyên tiêu)

Sống

(Hành)

Sú chim

(Ngải cứu)

Sư cua ía

(Mướp đắng)

Sua

(Cẩu tích)

Sùa cang lùa

(Cỏ roi ngựa)

Sua cấu

(Sa nhân)

Sua cḥ ṛ

(Mắc cỡ)

Sua khênh

(Cốt toái bổ)

Sua mang

(Ḅng bong)

Sủa phang

(Gai)

Sua só tùng

(Ḅng bong)

Sùa sú tùng

(Thiên môn)

Sùa tùa

(Cà độc dược)

Súa  tong

(Ḅng bong)

 

T

Tảu đai

(Đậu ván trắng)

Tâu đàng

(Bí đỏ)

Tâu đay

(Đậu ván trắng)

Tẩu dây

(Đậu ván trắng)

Tẩu đâyi

(Đậu ván trắng)

Tấu lia

(Bí đỏ)

Tẩu ṃ đăng

(Bồ cu vẽ)

Tẩu ṃ đay

(Bồ cu vẽ)

Tẩu ṃ đu

(Bồ cu vẽ)

Tẩu tằng

(Núc nác)

Tẩu tẳng

(Núc nác)

Tdê

(Linh chi)

Tha cong nhe

(Thược dược)

Thùa

(Gai)

Tờ đá chua

(Thầu dầu)

Tớ đai

(Đậu ván trắng)

Tông

(Bạch chỉ)

Tông bâu bai

(Bướm bạc)

Tông cạ

(Chè vằng)

Tông chờ chênh

(Ṃ trắng)

Tông chông

(Cau)

Tông chua lêng

(Đỗ trọng)

Tông cu tư

(Câu đằng)

Tong cua lềnh

(Đỗ trọng)

Tông pà dơ

(Cây cơm cháy)

Tông tà

(Núc nác)

Tông thông

(Chổi xể)

Tông trông

(Huyết dụ)

Tồng xáng đơ

(Vông nem)

Trá lặng

(Mần tưới)

Tràng pở

(Hy thiêm)

Trâu chư tria

(Cà độc dược)

Trầu pàn

(Cứt lợn)

Trau pang

(Chó đẻ răng cưa)

Tṛ chẳng thú

(Phục linh)

Trọ tư ź

(Cứt lợn)

Tru

(Tô mộc)

Trùa chưng chùa (Chè)

Trùa ia

(Chè đắng)

Trùa rềnh a

(Chè đắng)

Trùa zềnh

(Chè)

Trương lơ nếnh

(Lá ngón)

Tu kớ

(Nai)

Tua á

(Cây hàm ếch)

Tzi xé

(Xuyên tiêu)

X

Xàng si

(Tam thất)

Xanh ĺnh

(Thiên niên kiện)

Xú nhị

(Ngải cứu)

Xú tri

(Ngải cứu)

Xú tŕ

(Ngải cứu)

Xú xỉ nhè

(Ngải cứu)

Xùa

(Cẩu tích)

Xua chua

(Cốt toái bổ)

Xùa chua

(Cốt toái bổ)

Xua đa

(Cẩu tích)

Xua dê

(Chè)

Xua ka

(Cẩu tích)

Xua phăng

(Ḅng bong)

Y

Yor

(Địa liền)

Z

Zông lia

(Huyết dụ)

 

 

 

TRA CỨU CÂY THUỐC THEO PHIÊN ÂM TIẾNG DÂN TỘC TÀY

 

B  C  D  H  K  L  M  N  O  P  Q  R  S  T  V  X

B

Bâu pán 

(Gai)

Bâu pát 

(Lá lốt)

Bây pán 

(Gai)

Bioóc kim

(Cúc hoa vàng)

Bjoóc kim ngân

(Kim ngân)

Bơ ṭng

(Vông nem)

Bóc ngần

(Dâm bụt)

Bóc vẻn

(Dâm bụt)

Boóc sinh

(Nhân trần)

Bửa khao

(Bướm bạc)

 

C

Cà lục dược 

(Cà độc dược)

Cả pa 

(Bỏng nổ) 

Cà ṭm 

(B́nh vôi) 

Cảm sảo

(Cam thảo dây)

Cáp gụn 

(Náng hoa trắng)

Cap lạ

(Dứa dại)

Cây cơm nguội

(Thăng ma)

Cây cút 

(Ḅng bong)

Chạ khẩu cắm 

(Dạ cẩm)

Chà khôm

(Chè đắng)

Chạ phéc

(Sả)

Chạ phiăc hom

(Bạc hà)

Chạ phiéc

(Sả)

Chè kham

(Chè đắng)

Chè khâm

(Chè đắng)

Chè khôm

(Chè đắng)

Chẻ nan

(Cà gai leo)

Chỏ xay

(Cối xay)

Co bạc hà nạt nặm (Bạc hà)

Co bắp

(Ngô)

Co bây pan

(Gai)

Co bèo

(Bèo cái )

Co cà

(Cỏ tranh)

Co cau

(Cau)

Co chè

(Chè)

Co cộn

(Náng hoa trắng)

C̣ cứt khô 

(Ḅng bong)

Co din phsèn 

(Thuốc phiện)

Co đ̣ ho

(Thảo quả)

Co dừa

(Dừa cạn)

Co hang mạ

(Cỏ roi ngựa)

Co hành

(Hành)

Co hon cáy khao (Mào gà trắng)

Co khà

(Cỏ tranh)

Co khỉ gáy

(Bọ mẩy)

Co mác củm

(Trám trắng)

Co mác khấy

(Ư dĩ)

Cỏ mác lang

(Chút chít)

Co mác loót

(Nhót)

Co mạy teng pid

(Cây sữa)

Co mi mỏ

(Cỏ nhọ nồi)

Co mừng khuyết (Cam thảo đất)

Co nắc ninh

(Cúc tần)

Co nghệ

(Nghệ)

Co nghệ

(Nghệ)

Co nghệ đăm

(Nghệ)

Cỏ ngoi

(Mào gà trắng)

Co ngộn

(Lá ngón)

Co nguộn

(Lá ngón)

Co ngượn

(Lá ngón)

Co nhả ngài

(Ngải cứu)

Co nhù quet

(Chổi xể)

Co pác coóp

(Cây hàm ếch)

C̣ phác hạ

(B́nh vôi)

Co phẩy pồng

(Sống đời)

Co phe vài

(Ngũ sắc)

Co rẩy cay

(Ba kích)

Co sắp bút

(Mộc tặc)

Co sham vênh may thặp moong

(Ba chạc)

Co sôm

(Chút chít)

Co suma

(Mă đề)

Co tất ma

(Mơ tam thể)

Co tèng

(Câu đằng)

Co vài thất 

(Cỏ xước)

Cỏ vàng

(Thạch hộc)

Co ka cà 

(Cỏ tranh)

Co khinh đương

(Nghệ)

Co mịn

(Nghệ)

Co pán

(Gai)

Co sạy cáy 

(Ba kích)

Coóc bẻ

(Sừng dê hoa vàng)

Coóc bẻ

(Thảo quyết minh)

Cút báng

(Cẩu tích)

 

D

Dạ kham

(Chó đẻ răng cưa)

Dạ kham 

(Cam thảo đất)

Dang ping

(Đỗ trọng)

Dầu ve

(Thầu dầu)

Đứt lượt

(Dạ cẩm)

Hang ma 

(Cỏ mần trầu)

Hay chỏn

(Cát sâm)

Hom héo

(Bạc hà)

Hom pia

(Diếp cá)

Hủ

(Bạch đồng nữ)

 

K

Kanhkina

Khao ham 

(Chó đẻ răng cưa)

Khảo đin 

(Cam thảo đất)

Khau cần cà

(Hà thủ ô trắng)

Khau cát

(Sắn dây)

Khau đâu

(Thổ phục linh)

Khau khem

(Hoàng đằng)

Khẩu mày

(Cây cơm cháy)

Khau tất ma

(Mơ tam thể)

Khẩu xay

(Cối xay)

Khẻo ma

(Bách hợp)

Khỉ mu

(Cứt lợn)

Khinh

(Gừng)

Khinh lương

(Nghệ)

Kim quỉ 

(Dâm bụt)

 

L

Lài luồng

(Hoè)

Làm ngài

(Ích mẫu)

Lào đén

(Thuốc phiện)

Lào phèn

(Thuốc phiện)

Lầy nặm

(Thạch xương bồ)

 

M

Má thúa pép 

(Đậu ván trắng)

Mac ca

(Lạc tiên)

Mác chèn sứ

(Mă tiền)

Mác giáo giun

(Sử quân tử)

Mác hồi

(Đại hồi)

Mác khấu

(Gấc)

Mác khẩu

(Gấc)

Mác kháy

(Mướp đắng)

Mác khẩy

(Mướp đắng)

Mac khen

(Xuyên tiêu)

Mác khưa đeng

(Cà đinh)

Mac khưa nam

(Cà độc dược)

Mác khuây

(Mướp đắng)

Mác làng cương (Dành dành)

Mác ĺu

(Lựu)

Mác ṃi

(Mơ)

Mác ṃn 

(Dâu tằm)

Mác mọn 

(Dâu tằm)

Mác nam coi

(Kim anh)

Mác nẻng

(Sa nhân)

Mác ngận

(Long nhăn)

Mác nhan 

(Nhăn)

Mác nhàng 

(Ké đầu ngựa)

Mác nim

(Mạn kinh)

Mác nim

(Sim)

Mác phừng

(Khế)

Mac phường

(Khế)

Mác phường

(Khế)

Mác púp

(Trâu cổ)

Mác sây 

(Chút chít)

Mác sim

(Sim)

Mac tào

(Đào)

Mác tảo

(Táo ta)

Mác tỏng xay

(Cối xay)

Mac xựa

(Dứa Mỹ)

Mac quánh mon 

(Lạc tiên)

Mac trúc

(Lạc tiên)

Mẩm khảu táy 

(Ngô)

Mằn năng ón

(Hà thủ ô đỏ)

Mằn rày cáy

(Đảng sâm)

Mằn rịa

(Củ mài)

Mằn săm

(Thiên môn)

Mằn sâm đăm

(Thổ nhân sâm)

Mằn toi

(Bách bộ)

Mần tôm

(Bán hạ )

Mằn toong

(Củ dong)

Mằn chèn

(Củ mài)

Mằn kép

(Củ mài)

Mạng báng bệnh

(Cốt toái bổ)

Mạy ca 

(Núc nác)

Mạy cam chỉa

(Trần b́)

Mạy khảo chuông (Long năo)

Mạy làng 

(Cau)

Mạy ḷi

(Hồ tiêu)

Mạy mản 

(Cây sữa)

Mạy mỏ lắc nà 

(Cỏ nhọ nồi)

Mạy mọn

(Dâu tằm)

Mạy ngận

(Nhăn)

Mạy nghịu

(Cây gạo)

Mạy păt 

(Ư dĩ)

Mạy phăng 

(Đào)

Mạy quẽ

(Quế)

Mạy tảng nam

(Ngũ gia b́ gai)

Mảy tắp

(Ba chạc)

Mạy tảy

(Ngũ gia b́ chân chim)

Mạy tiếng

(Bỏng nổ) 

Mạy ưởng

(Mía ḍ)

Mạy vang

(Tô mộc)

Mèng thương

(Mật ong)

Mỉ mỏ

(Cỏ mực)

Mịn đăm

(Nghệ đen)

Mọc vài

(Mức hoa trắng)

Mùm bắp 

(Ngô)

Mùm bé 

(Thảo quyết minh)

 

N

Nam phịt

(Mỏ quạ)

Năng mác cam

(Trần b́)

Nát

(Đại bi)

Néng lài 

(Hoàng tinh hoa trắng)

Ngậu

(Sen)

Nghệ lương

(Nghệ)

Nghẹ 

(Nghệ)

Nghệ đăm 

(Nghệ đen)

Nhả cà 

(Cỏ tranh)

Nhả cóc bẻ 

(Thảo quyết minh)

Nhả khỉ cáy

(Hy thiêm)

Nhả khoanh ngù

(Cỏ xước)

Nhả ngài

(Ngải cứu)

Nhả nháp

(Cỏ mần trầu)

Nhả phắt

(Ké đầu ngựa)

Nhả pop

(Ḅng bong)

Nhả póp

(Ḅng bong)

Nhả phiắc vài 

(Cỏ mần trầu)

Nhả vài

(Cỏ mần trầu)

Nhỏ cà 

(Cỏ tranh)

Nó ưởng

(Mía ḍ)

 

O

Ỏi càng

(Huyết giác)

 

P

Pắc ca lệnh 

(Núc nác)

Pạng pú

(Nhựa cóc)

Phả lúa 

(Mă đề)

Phắc căn thin

(Keo giậu)

Phắc đeng

(Bí đỏ )

Phặc hẻo

(Củ chóc)

Phắc nhả 

(Ké đầu ngựa)

Phắc pao

(Bồ công anh )

Phắc pát

(Lá lốt)

Phặc phà 

(Đại bi)

Phắc sắm 

(Rau má)

Phắc bao

(Bồ công anh )

Phắc ma 

(Ké đầu ngựa)

Phằn cưa

(Tía tô)

Phao tôn 

(Cối xay)

Phật phà 

(Cúc tần)

Phật phà 

(Đại bi)

Phặt phà 

(Đại bi)

Phắt tươi

(Ư dĩ)

Ph́ phà

(Tỳ bà diệp)

Phiắc ca

(Núc nác)

Phiắc ca 

(Bí đỏ )

Phiắc chèn

(Rau má)

Phiắc hom

(Cây mùi)

Phiắc hom khao

(Bạc hà)

Phiắc nát nặm 

(Cúc tần)

Phiắc pat

(Lá lốt)

Phiắc pát

(Lá lốt)

Phiắc phặc 

(Bí đỏ )

Phiắc vảy 

(Diếp cá)

Phiéc kép phạ

(Mạch môn)

Phjắc bỉa

(Rau sam)

Phjắc hoảy 

(Diếp cá)

Phjăc khau khỉ

(Khủ khởi)

Phjắc pót đông

(Dừa cạn)

Phjăc póp nặm 

(Rau dừa nước)

Phong trường 

(Cỏ nhọ nồi)

Phsắc chèn 

(Rau má)

Phsắc pao 

(Bồ công anh )

Phsắc sèn 

(Rau má)

Piđeng

(Huyết dụ)

Poong pi

(Bạch đồng nữ)

Pọng ṕ

(Bạch đồng nữ )

Póp tưn 

(Ngũ gia b́ gai)

Póp đinh 

(Ngũ gia b́ gai)

Puồng ṕ

(Bách bộ)

Puồng ṕ

(Bạch đồng nữ )

 

Q

Quắt phi

(Xạ can)

 

R

Rau vẹn 

(Diếp cá)

Rẩy cáy

(Ba kích)

Ruốn

(Tỏi)

 

S

Sam síp lạc

(Bách bộ)

Sán sà

(Sơn tra)

Sảy cáy 

(Ba kích)

Sleng slảo mè

(Thường sơn)

Slổm ca 

(Rau sam)

Slùng đeng 

(Thầu dầu)

Sluốn 

(Tỏi)

Sluộn 

(Tỏi)

Su ma 

(Mă đề)

 

T

Tang 

(Dâu tằm)

Tất bát 

(Lá lốt)

Tậu phiâm

(Bảy lá một hoa)

Tây phan liên 

(Lạc tiên)

Thau tày cáy 

(Ba kích)

Thua khao

(Đậu ván trắng)

Thúa khao

(Đậu ván trắng)

Thúa dài

(Đậu ván trắng)

Thúa pản khao 

(Đậu ván trắng)

Tong vàn 

(Nghệ đen)

Trạ phéc

(Sả)

Tua

(Hươu nai)

Tua ca rộc

(Nhựa cóc)

Tua ngù

(Rắn)

Tua quang 

(Hươu nai)

Tua rựa cáy

(Nhựa cóc)

 

V

Văn châu lan

(Náng hoa trắng)

Vạt hương

(Thiên niên kiện)

Vắt vẹo

(Ráy)

Vạt vẹo

(Ráy)

Vịng vỉ khao

(Bạch đồng nữ)

Vọng chính

(Hoàng tinh hoa trắng)

 

X

Xè kẹp 

(Thạch hộc)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  

 TRA CỨU CÂY THUỐC VỊ THUỐC THEO TÊN VIỆT NAM

A B C D E F G H I K L M N O P Q R S T U V X Y

TRA CỨU CÂY THUỐC THEO PHIÊN ÂM TIẾNG CÁC DÂN TỘC (H' MÔNG, DAO, THÁI, CHĂM, MƯỜNG, TÀY, NÙNG) 

TRA CỨU CÂY THUỐC THEO TÊN TIẾNG  LÀO, CAMPUCHIA

 

TRA CỨU CÂY THUỐC VỊ THUỐC THEO TÊN KHOA HỌC

 

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z

 

Chuyển về cuối trang

A

Abelmoschus moschatus (L.) Medik.

Abelmoschus moschatus (L.) Medik.). var. tuberosus (Span.) Borss.

Abrus mollis Hance

Abrus precatorius L.

Abutilon indicum (L.) Sweet

Acanthopanax aculeatus  Seem

Acanthopanax gracilistylus W.W. Sm.

Acanthopanax trifoliatus (L.) Merr.

Achyranthes aspera L.

Achyranthes bidentata Blume.

Aconitum carmichaeli Dobx.

Aconitum chinense Paxt.

Aconitum fortunei Hemsl.

Acorus gramineus Soland.

Acorus calamus L.

Adenophora verticillata Fisch.

Adenosma caeruleum R.Br.

Adenosma indianum (Lour.) Merr.

Agastache rugosus (Fisch. et Mey.) O. Ktze

Agave americana L.

Ageratum  conyzoides L.

Agrimonia eupatoria L.

Akebia quinata Decne

Alangium chinense (Lour.) Harms.

Alisma plantago-aquatica L.

Alium fistulosum L.

Allium sativum L.

Alocasia odora (Roxb.) C. Coch

Aloe spp.

Alpinia galanga Willd.

Alpinia katsumadai  Hayt.

Alpinia officinarum Hance.

Alpinia oxyphylla Miq.

Alstonia scholaris (L.) R.Br.

Amalocalyx microlobus Pierre ex Spire

Amomum aromaticum Roxb.

Amomum cardamomum L.

Amomum costatum Benth.

Amomum sp.

Amomum tsao-ko Crevost et Lem

Ampelopsis cantoniensis (Hook. et Arn) Planch

Andrographis paniculata (Burum.f.) Nees

Anemarrhena asphodeloides Bge.

Angelica acutiloba (Sieb. et Zucc.) Kitagawa

Angelica anomala Ave-Lall.

Angelica dahurica (Fisch.) Benth. et Hook

Angelica sinensis (Oliv.) Diels

Apis sp.

Apis cerana Fabricius.

Apis melifera L.

Aquilaria agallocha Roxb.

Aquilaria crassna Pierre

Aquilaria sinensis (Lour.) Gilg

Ardisia sylvestris Pitard.

Areca catechu L.

Aralia papyrifera Hook.

Arctium lappa L.

Argyreia acuta Lour.

Arisaema amurense Maxim.

Arisaema consanguineum Schott.

Arisaema heterophyllum Blume

Arisaema thunbergir Bl.

Aristolochia heterophylla Hemsl.

Aristolochia westlandi Hemsl

Artemisia apiacea Hance

Artemisia annua L.

Artemisia carvifolia Wall.

Artemisia vulgaris L.

Artemisia vulgaris L. var. indica (Willd) DC.

Asarum heterotropoides F.Schm. var. mandschuricum (Maxim.) Kitag

Asarum sieboldi Miq.

Asparagus cochinchinensis  (Lour.)

Asparagus lucidus Lindl.

Aster tataricus L.f.

Astragalus membranaceus Bge.

Astragalus mongholicus Bge

Atractylodes chinensis (DC.) Koidg.

Atractylodes lancea (Thunb.) DC.

Atractylodes macrocephala Koidz.

Aucklandia lappa Decne

Averrhoa carambola L.

Azadirachta indica A. Juss.

 Chuyển lên đầu trang

B

Babulus babulis L.

Bacopa monniera (L.) Pennell. Syn. Herpestis monieri (L.) Rothm

Baeckea frutescens L.

Balanophora sp.

Bambusa sp.

Baphicananthus cusia (Nees) Bremek.

Beauveria bassiana (Bals.) Vuill.

Belamcanda chinensis (L.) DC.

Berberis wallichiana DC.

Biota orientalis  Endl.

Bletilla hyacinthina R. Br.

Bletilla striata (Thunb.) Reichb

Blumea balsamifera (L.) D C.

Blumea subcapitata DC.

Boehmenia nivea (L.) Gaud.

Bombax heptaphylla Cav.

Bombax malabaricum DC.

Bombyx mori L.

Bos taurus domesticus Gmelin.

Bos taurus L.

Botrytis bassiana Bals.

Brassica alba Boiss.

Brassica juncea L.

Brassica nigra Koch.

Bombyx mori L.

Bos taurus domesticus Gmelin.

Bos taurus L.

Breynia fruticosa Hook. F.

Brucea javanica Merr.

Brucea sumatrana Roxb.

Bubalus bubalis L.

Bufo bufo L.

Bungarus candidus L.

Bungarus fasciatus Schneider

Bupleurum chinense DC.

Bupleurum scorzononaefolium Wild.

Buthus sp.

Chuyển lên đầu trang

C

 

Cacalia bulbosa Lour.

Caesalpinia sappan L.

Calamus draco Willd.

Calotropis gigantea R. Br.

Camellia sinensis O. Ktze

Campanumoea javanica Blume

Canarium album (Lour.) Raeusch

Cannabis sativa L.

Cannabis sativa L. var. chinensis

Cannabis sativa L. var. indica

Cardiospermum halicacabum  L.

Capsella bursa-pastoris Medik

Carthamus tinctorius L.

Cassia acutifolia Delile

Cassia alata L.

Cassia angustifolia Vahl.

Cassia occidentalis L.

Cassia tora L.

Catharanthus roseus (L.) G. Don

Celastrus sp.

Celosia argentea L.

Centella asiatica (L.) Urb.

Cervus nippon Temminck

Cervus unicolor  Cuv.

Chaenomeles lagenaria (Loisel.) Koidz.

Chenopodium ambrosioides L.

Chenopodium anthelminticum A. Gray.

Chinemys reevesii Gray.

Chromolaena odorata (L.) King et Robinson

Chrysanthemum indicum L.

Chrysanthemum morifolium Ramat.

Cibotium barometz J. Sm.

Cimicifuga dahurica Maxim

Cimicifuga foetida L.

Cimicifuga  heracleifolia Komar.

Cinchona calisaya Weddell

Cinchona officinalis L.

Cinchona succirubra Pavon

Cinnamomum camphora L. Nees. et Eberm.

Cinnamomum cassia Blume

Cinnamomum liangii Allen.

Cinnamomum obtusifolium Nees.

Cinnamomum parthenoxylon Meissn.

Cinnamomum zeylanicum Breyn.

Cissus cantoniensis Hook. et Arn.

Cistanche ambigua G. Beck (Bge)

Cistanche deserticola Y.G. Ma 

Cistanche salsa (C.A. Mey.) G.Bek.

Citrus auranticum L.

Citrus reticulata Blanco

Citrus sinensis Osbesk.

Clematis hexapentala Pall.

Clematis armandii Franch

Clematis manshurica Rupr.

Clematis montana Buch- Ham. ex DC.

Clematis sinensis Osheck.

Clerodendrum canescens Wall.

Clerodendrum cyrtophyllum Turcz

Clerodendrum fragrans (Vent.) Willd.

Clerodendrum squamatum Vahl.

Clerodendron viscosum Vent.

Cnidium monnieri (L.) Cuss.

Cocculus trilobus DS.

Codonopsis pilosula Nannf.

Coix lachryma-jobi L.

Coleus aromaticus Benth.

Comelina communis L.

Commiphora abyssinica Engler.

Commiphora molmol Engler.

Coptis chinensis Fronclo.

Coptis teeta Wall.

Coptis teetoides C.Y.Cheng.

Corchorus spp.

Cordyceps sinensis (Berk) Sacc.

Cordyline terminalis Kanth

Coriandrum sativum  L.

Cornus officinalis Sieb. et Zucc.

Corydalis bulbosa DC.

Corydalis yanhusuo W. T. Wang

Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr.

Coscinium usitatum Pierre.

Costus speciosus Smith.

Crataegus cybeata Sieb. et Zucc.

Crataegus pinnatifida var. major N.E.Br.

Cratoxylum prunifolium Dyer

Crinum asiaticum L.

Crinum latifolium L.

Criptotympana pustulata Fabricius

Croton tonkinensis Gagnep.

Cryptolepis buchanani Roem. et Schult

Cucurbita pepo L.

Cudrania javanensis Trec.

Curculigo ensifolia R.Br.

Curculigo orchioides Gaertn.

Curcuma aeruginosa Rosc.

Curcuma domestica Valet

Curcuma longa L.

Curcuma zedoaria Rosc.

Cuscuta sinensis Lamk.

Cyclea bicristata (Girff.) Diels.

Cydonia lagenaria Loisel

Cymbopogon sp.

Cynara scolymus L.

Cyperus rotundus L.

Cyperus stoloniferus Retz.

 

Chuyển lên đầu trang

D

 

Dactyloctenium aegyptium (L.) Richt.

Dahlia variabilis Desf

Daiswa polyphylla (Smith) Raf.

Datura metel L.

Dendrobium candidum Wall. ex Lindl.

Dendrobium chrysanthum Wall. ex Lindl.

Dendrobium fimbriatum Hook.

Dendrobium loddigesii Rolfe

Dendrobium nobile Lindl

Dendrolobium triangulare (Retz.) Schinler

Desmodium cephalotes (Roxb). Wight et Arn.

Desmodium pulchellum Benth

Desmodium styracifolium Merr.

Dichroa febrifuga Lour.

Dicksonia barometz L.

Dicranopteris dichotoma (Thunb.) Bernh.

Digitalis lanata Ehr.

Digitalis purpurea L.

Dioscorea alata L.

Dioscorea glabra Roxb.

Dioscorea persimilis Prain et Burkill

Dioscorea tokoro Makino

Diospiros kaki L. f.

Diospiros chinensis Blume

Dipsacus japonicus Miq.

Docynia doumeri Schneid

Docynia indica Dec.

Dolichos lablab L.

Dracaena angustifolia Roxb.

Dracaena cambodiana Pierre ex Gagnep.

Drynaria bonii Christ.

Drynaria fortunei J.Sm

Drynaria quercifolia (L.) J. Sm.

Dryobalanops aromatica Gaertn.

Chuyển lên đầu trang

E

Eclipta alba Hassk.

Eclipta prostata L.

Ehretia dentata Courch.

Elaeagus latifolia L.

Elephantopus scarber L.

Eleusine indica Gaerth.

Eleutherine subaphylla Gagnep.

Eleutherine bulbosa (Mill) Urban

Elsholtzia cristata Willd.

Elsholtzia ciliatae (Thunb.) Hyland.

Elsholtzia penduliflora W.W. Smith.

Embelia ribes Burn

Embelia robusta Roxb.

Embelia micrantha DC.

Ephedra equisetina Bunge.

Ephedra intermedia Schrenk et Mey

Ephedra sinica Stapf.

Epimedum brevicornn Maxim

Epimedum macranthum Merr. et Desne.

Epimedum sagittatum (Sieb. et Zucc.) Maxim

Equis asinus L.

Equisetum debile Roxb.

Eriocaulon sexangulare L.

Eryobotrya japonica Lindl.

Erythrina variegata L.

Erythroxylon coca Lamk.

Erythroxylon coca var. spruceanum Burck

Erythroxylon coca var. novodrannatense Morris

Eucalyptus camaldulensis  Dehnhardt

Eucalyptus citriodora Hook.f

Eucalyptus exserta F.V. Muell

Eucomia ulmoides Oliv.

Eugenia caryophylata Thunb.

Eugenia jambonala Lamk.

Eugenia operculata Roxb.

Eupatorium ayapana Vent.

Eupatorium fortunei Turcz.

Eupatorium odoratum L.

Eupatorium rebaudianum Bert.

Eupatorium staechadosmum Hance.

Euphorbia antiquorum L.

Euphorbia hirta L.

Euphorbia kansui Liou.

Euphorbia pekinensis Rupr

Euphorbia pilulifera L.

Euphorbia sieblodian Morren et Decasne

Euphorbia thymifolia Burm.

Euphoria longan (Lour.) Steud.

Euryale ferox Salisb.

Eurycoma longifolia Jack.

Evodia lepta (Spreng) Merr.

Evodia rutaecarpa (Juss.) Benth.

Excoecaria bicolor Hass

Excoecaria cochichinensis Lour

Excoecaria orientalis Pax. et Hoffm

Chuyển lên đầu trang

F

 

Fagara avicennae Lamk.

Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson

Fibraurea  recisa Pierre

Fibraurea tinctoria Lour.

Ficus heterophyllus L.

Ficus hirta Vahl

Ficus pumila Lin.

Ficus simplicissima Lour. var. hirta (Vahl) Migo

Ficus stipulata Thunb.

Fluggea virosa (Roxb. ex Willd) Voigt

Foeniculum vulgare Mill.

Forsythia suspensa Vahl.

Fritillaria cirrhosa D. Don

Fritillaria roylei Hook.

Fritillaria thunbergii Miq.  

Fritillaria verticillata Willd.

Chuyển lên đầu trang

G

Gallus domesticus Brisson.

Ganoderma applanatum (Pers.) Pat.

Ganoderma japonicum (Fr) Lloid.

Ganoderma lucidum (Leyss ex. Fr.) Karst.

Ganoderma sinense Zhao.Xu et Zhang

Garcinia mangostana L.

Gardenia florida L.

Gardenia jasminoides Ellis.

Gastrodia elata Bl

Gekko gekko L.

Gelidium sp.

Gelsemium elegans Benth.

Gentiana macrophylla Pallas.

Gentiana scabra Bunge.

Geranium nepalense Sweet

Geranium nepalense var. thunbergii Kudo

Geranium sibiricum var. glabrius (Hara) Ohwi

Ginkgo biloba L.

Gleditschia australis Hemsl.

Glehnia litoralis Fr. Schm.

Gloriosa superba L.

Gloriosa symplex Don.

Glycyrrhiza glabra  L.

Glycyrrhiza uralensis Fish

Gossampinus malabarica (DC.) Merr.

Gracilaria sp.

Gymnema sylvestre (Retz.) R. Br ex Schult

Gynostemma laxum (Wall) Cogn

Gynostemma pedata Bl.

Gynostemma pentaphyllum Makino

Gynura pseudochina DC.

Chuyển lên đầu trang

H

 

Haliotis diversicolor Reeve

Haliotis ginantea Reeve

Haliotis ovina Gmelin

Hedera nepalensis K. Koch var. sinensis (Tobl.) Rehd.

Hedera helix L.

Hedyotis capitellata Wall. ex G.Don

Hedyotis corymbosa (L.) Lamk.

Hedyotis diffusa Willd.

Hevea brasilensis (HBK.) Muell.-Arg.

 

 

 

 

Hibiscus abelmoschus L.

Hibiscus rosa-sinensis L.

Hibiscus sagittifolius Kurz

Hibiscus sagittifolius Kurz var. septentrionalis Gapnep.

Hibiscus sabdariffla L.

Hippocampus histrix  Kaup

Hippocampus kelloggi Jordan et Snyder 

Holarrhena antidysenteria Wall

Holothuria spp

Homalomena aromatica Schott.

Hordeum vulgare L.

Hordeum sativum Jess.

Horsfieldia amygdalina (Wall.) Warb

Houttuynia cordata Thunb.

Hydnophytum formicurium Jack

Hydnophytum montanum Blume

Hypericum japonicum Thumb.

Chuyển lên đầu trang

I

Ilex kaushue S. Y. Hu

Ilex kudingcha C. J. Tseng.

Ilex sp.

Illicium griffithii Hook. Et Thoms.

Illicium verum Hook.f.

Imperata cylindrical P. Beauv.

Inula helenium L.

Ipomoea biloba Forsk.

Ipomoea hederacea Jacq.

Iodes ovalis Blume var. vitiginea (Hance) Gagnep

Iodes vitiginea (Hance) Hemsl.

Ipomoea biloba Forsk.

Ipomoea hederacea Jacq.

Isatis tictoria L.

Chuyển lên đầu trang

J

Jasminum anastomosans Wall.

Jasminum subtriplinerve Blume.

Juglans regia L.

Juncus effusus L.

Jussiae repens L.

 

K

Kadsura japonica L.

Kaempferia galanga L.

Kaempferia longa Jacq.

Kaempferia rotunda L.

Kalanchoe pinata (Lamk.) Pers.

Knema corticosa Lour 

L

Lablab vulgaris  Savi.

Laccifer lacca Kerr.

Lactuca indica L.

Lactuca squarrosa Miq.

Lantana camara L.

Lasia spinosa (L.) Thw. Syn. Dracontium spinosum L.

Launae pinnatifida Cass.

Ledebouriella  seseloides Wolf.

Leea rubra Blume

Lemna minor L.

Leonurus heterophyllus Sweet

Lepidium apetalum Wild.

Lepidium micranthum Lebour.

Leucaena glauca L.

Litchi sinensis Sonn.

Ligusticum brachylobum Franch

Ligusticum jeholense Nak. et Kitaga

Ligusticum sinense Oliv.

Ligusticum wallichii Franch.

Lilium brownii var. colchester Wils.

Lindera myrrha (Lour.) Merr.

Lindera strychnifolia Will.

Lindera trinervia Juss.

Liquidambar formosana Hance

Litchi sinensis Sonn.

Lobelia chinensis Lour.

Lobelia radicans Thumb.

Lonicera cambodiana Pierre

Lonicera confusa DC.

Lonicera dasystyla Rehd.

Lonicera japonica Thunb.

Lophanthus rugosus Fisch. et Mey.

Lophatherum gracile Brongn.

Loranthus gracilifolius Schult.

Loranthus parasiticus (L.) Merr.

Ludwigia adscendens (L.) Hara

Lycium sinense Mill.

Lygodium japonicum (Thunb.) Sw.

Lygodium sp.

Chuyển lên đầu trang

 

M

Maclura cochinchinensis (Lour.) Corner

Macrosolen tricolor (Lec.) Dans.

Magnolia liliflora Desr.

Magnolia officinalis var. biloba Red. et Wils.

Mahonia bealei  (Fort.) Carr.

Mahonia japonica (Thunb.) DC.

Mahonia nepalensis DC.

Mallotus apelta (Lour.) Muell.

Manis pentadactyla L.

Maranta arundinacea Lin.

Melaleuca leucadendra L.

Melia azadirachta L.

Melia toosendan Sieb. et Zucc

Mentha arvensis L.

Microrhynchus sarmentosus DS.

Millettia dielsiana Harms.

Millettia nitida Benth

Milletia pulchra Kurz.

Mimosa pudica L.

Moghania macrophilla (Willd.) O.Ktze.

Momordica charantia L.

Momordica cochinchinensis (Lour) Spreng

Momordica grosvenori Swingle.

Morinda citrifolia L.

Morinda officinalis How.

Moringa oleifera Lamk.

Moringa pterygosperma Gaertn

Morus alba L.

Moschus moschiferus L.

Mucuna birwoodiana Tutcher

Musa brachycarpa Back.

Musa basjoo Sieb.

Mussaenda pubescens Ait.f.

Myristica fragrans Houtt.

Myristica globularia Lam.

Chuyển lên đầu trang

N

Naja naja L.

Nephrolepis cordifolia Presl.

Nelumbium speciosum Wild.

Nelumbo nucifera Gaertn.

Nerium oleander L.

Nervilia fordii (Hance) Schltr.

Nervilia aragoana Gaudich.

Nervilia crispata (Blume) Schlecter.

Nervilia plicata (Andr.) Schlecter.

Notopterygium forbesii Boiss.

Notopterygium incisum Ting ex H.T. Chang

Nymphaea stellata Wild.

Chuyển lên đầu trang

 

O

Ocimum basilicum L. var basilicum

Ocimum gratissimum L.

Ocimum sanctum L.

Oldenlandia capitellata Kuntze.

Oldenlandia corymbosa L.

Oldenlandia diffusa (Willd.) Roxb.

Ophiopogon japonicus (Thunb.) Ker. Gawl.

Opuntia dillenii (Ker Gawl.) Haw

Oroxylon indicum Vent.

Oroxylon indicum Vent.

Orthosiphon stamineus Benth.

Orthosiphon aristatus (Blume) Miq.

Ostrea spp.

Chuyển lên đầu trang

P

Paederia tomentosa L.

Paeonia lactiflora Pall.

Paeonia obovata Maxim.

Paeonia suffruticosa Andr.

Panax fruticosum L.

Panax ginseng C.A.Mey.

Panax notoginseng (Burk.) F. H. Chen

Panax vietnamensis  Ha et Grushv.

Pandanus tectorius Sol.

Pandanus tonkinensis Mart.

Papaver somniferum L.

Parameria glandulifera Benth.

Paris polyphylla Sm.

Passiflora edulis Sims.

Passiflora foetida L.

Perilla frutescens (L.) Britton

Perilla ocymoides L.

Periploca sepium Bge.

Persicaria hydropiper (L.) Spoch.

Peucedanum decursivum Maxim.

Peucedanum praeruptorum Dunn.

Pharbitis nil (L.) Choisy

Pharbitis purpurea (L.) Voigt.

Phellodendron chinense Schneid.

Pheretima sp.

Phyllanthus amarus Schum et Thonn.

Phyllanthus urinaria L.

Phyllodium elegans (Lour.) Desv

Phyllodium pulchellum Desv.

Phytolacca decandra L.

Phytolacca esculenta Van Hout.

Pimela alba Lour.

Pinellia ternata (Thunb.) Brett

Pinus mercusii Jungh et De Vries

Piper lolot C. DC.

Piper longum L

Piper betle L.

Piper nigrum L.

Pistacia lentiscus L.

Pistia stratiotes L.

Plantago major L.

Platycodon grandiflorum (Jacq.) A. DC.

Pluchea indica Less.

Pluchea pteropoda Hemsl

Plumbago rosea L.

Plumbago zeylanica L.

Plumeria rubra L. var. acutifolia (Poir.) Bailey

Pogostemon cablin (Blanco) Blanco.

Polygala sibirica L.

Polygala tenuifolia Willd.

Polygonatum  officinale All.

Polygonatum kingianum Coll et Hemsl.

Polygonatum multiflorum L.

Polygonatum sibiricum Red.

Polygonatum vulgare Desf

Polygonum aviculare L.

Polygonum cuspidatum Sieb. et Zucc

Polygonum hydropiper L.

Polygonum multiflorum Thunb.

Polygonum tinctorium Ait.

Polypodium fortunei Kze

Polypodium quercifolium L.

Polyporus umbellatus (Pers.) Fries

Polyscias fruticosa Harms

Poria cocos Wolf.

Portulaca oleracca L.

Pouzolzia indica Gaud.

Pouzolzia zeylanica (L.) Benn

Prenanthes sarmentosa Willd.

Prunella  vulgaris L.

Prunus mome Sieb. et Zucc.

Prunus persicae (L.) Batsch.

Pseuderanthemum palatiferum  (Nees) Radlk

Psoralea corylifolia L.

Psychochia morindoides Hutch

Pueraria lobata (Wild.) Ohwi.

Pueraria thomsoni Benth.

Punica granatum L.

 

QR

Quisqualis indica L.

Raphydophora decursiva (Roxb) Schott

Rauvolfia cambodiana Pierre

Rauvolfia canescens L.

Rauvolfia chinensis Hemsl.

Rauvolfia serpentina (L.) Benth. ex Kurz.

Rauvolfia verticillata (Lour.) Baill.

Rauvolfia vomitoria Afz.

Rechistaric reptiles

Rehmania glutinosa (Gaerth) Libosh.

Reynoutria japonica Houtt.

Rheum  palmatum L.

Rhinacanthus communis Nees.

Rhinoceros sondaicus Desmarest

Rhinoceros sumatrensis Fischer

Rhinoceros unicornis L

Rhodomyrtus parviflora Alston

Rhodomyrtus tomentosa (Ait) Hassk.

Ricinus communis L.

Rhus sinensis Mill.

Rosa laevigata Michx.

Rubus sp.

Ruellia tuberosa L.

Rumex wallichii Meissn.

 

S

Sabia olacifolia Stapf

Salvia mitiorrhiza Bunge

Sambucus javanica Reinw.

Sanguisorba officinalis L.

Sargassum fusiforme (Harv) Setch.

Sargassum pallidum Turn. C. Ag.

Sargentodoxa cuneata (Oliv.) Rehd et Wils.

Saussurea lappa Clarke.

Scaphyum lychnophorum (Hance) Kost.

Schefflera heptaphylla (L.) Harms

Schefflera octophylla Harms.

Schisandra chinensis Baill.

Schizonepeta tenuifolia Brig.

Schlechtendalia chinensis Bell.

Scolopendra morsitans L.

Scoparia dulcis L.

Scrophularia buergeriana Miq.

Scrophularia ningpoensis Hemsl.

Scurrula glacilifolia (Schult.) Dans.

Scurrula parasitica L.

Scutellaria baicalensis Georg.

Scutellaria barbata D. Don

Scutellaria lanceolaria Miq.

Scutellaria macrantha Fisch.

Scutellaria rivularis Wall.

Selaginella tamariscina (Beauv.) Spring.

Selaginella involvens Spring

Selinum monnieri Lin.

Sepia esculenta Houle

Serissa japonica (Th.) Thunb.

Sesamum indicum L.

Sesamum orientale L.

Seseli delavayi Franch

Siegesbeckia orientalis L.

Smilax glabra Roxb.

Solanum hainanense Hance

Solanum procumbens Lour.

Solanum surattense Burm. F.

Solenograthus hardwichii Gray.

Sophora flavescens Ait.

Sophora japonica L.

Sorghum vulgare Pers.

Spatholobus suberectus Dunn.

Sparganium racemosum Huds-Scirpus yagara Ohwi

Sparganium stoloniferum Buch. Ham.

Spirodela polyrrhiza (L.) Schield

Stahlianthus thoreli Gagnep.

Stemona japonica Miq.

Stemona sessilifolia (Miq.) Franch. et Savat

Stemona tuberosa Lour.

Stephania glabra (Roxb.) Miers

Stephania tetrandra S. Moore.

Sterculia foetida L.

Sterculia lychnophera Hance

Stevia rebaudiana (Bert.) Hemsl.

Streptocaulon juventas Merr.

Strobilanthes forrestii Diels.

Strophanthus divaricatus (Loureiro) Hooker et Arn.

Strychnos nuxvomica L.

Strychnos wallichiana Steud. ex DC.

Styphnolobium japonicum (L.) Schott

Stylidium chinense Lour.

Styrax tonkinensis  Pierre

Syngnathoides biaculeatus Bloch

Syngnathus acus L.

Syzygium aromaticum (L.) Merill et L.M. Perry

 

T

Talinum paniculatum Gaertn

Talinum patens L.

Taraxacum officinale Bigg

Taxillus chinensis (DC.) Dans.

Taxillus gracilifolius (Schult.) Ban

Tephrosia candida DC.

Tephrosia purpurea (L.) Pers.

Terminalia chebula Retz.

Tetrapanax papyrifera (Hook) K. Koch.

Thalictrum foliolosum DC.

Thea chinensis Seem.

Thevetia peruviana Pers.

Thevetia neriifolia Juss.

Thuja orientalis L.

Thysanoloena maxima O. Kuntze

Tieghemopanax fruticosus Vig.

Tinospora sinensis (Lour.) Merr)

Tinospora tomentosa Miers.

Tribulus terrestris L.

Trichosanthes kirilowii Maxim

Trichosanthes sp.

Trichosanthes rosthornii Harms

Trionyx sinensis Wiegmann.

Trogopterus xanthipes Milne-Edwrds

Tussilago farfara L.

Typhonium trilobatum (L.) Schott.

 

U

Uncaria rhynchophylla (Miq) Jacks.

Ursus spp

Urtica nivea L.

 

V

Vaccaria segetalis (Neck) Garcke

Verbena officinalis L.

Vigna cylindryca (L.) Skeels.

Vinca rosea L.

Vitex trifolia L.

Viverricula malaccensis Gmelin

 

W

Wedelia calendulaceae Less.

Wedelia chinensis (Obs) Merr.

Wikstroemia indica C.A. Mey.

 

X

Xanthium sibiricum Patr.

Xanthium strumarium L.

 

Z

Zamenis mucosus L.

Zanthoxylum avicenniae (Lamk.) DC.

Zanthoxylum sp.

Zea mays L.

Zebrina pendula Schnizl.

Zingiber zerumbet (L.) Sm.

Zingiber officinale Rose

Ziziphus jujubae Mill. var. inermis (Bge) Rehd.

Zizyphus jujuba Lamk.

Ziziphus jujuba Mill. var. spinosa Hu ex H. F. Chou

Ziziphus mauritiana Lamk.

 

 

 Chuyển lên đầu trang

 

ACTISO

Tên khoa học: Cynara scolymus L., họ Cúc (Asteraceae). Cây được trồng ở một số vùng núi nước ta (Đà Lạt, Sapa).

Bộ phận dùng:(Folium Cynarae scolymi), Hoa (Flos Cynarae scolymi), Rễ (Radix Cynarae scolymi).

Thành phần hoá học chính: Cynarin, flavonoid, các acid hữu cơ, chất nhầy, pectin...

Công dụng: Thông tiểu, thông mật, dùng cho người yếu gan, thận, làm hạ cholesterol. Cụm hoa được dùng trong chế độ ăn kiêng của bệnh nhân tiểu đường, pḥng ngừa bệnh xơ vữa động mạch.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g dưới dạng thuốc sắc hay chè thuốc, cao mềm, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác. Trên thị trường có chế phẩm cao actiso dưới dạng viên nang và các chế phẩm dạng trà thuốc.

 

 

ANH TÚC XÁC

Pericarpium Papaveris

Tên khác: Cù túc xác.

Nguồn gốc: Vỏ quả khô đă trích nhựa của cây Thuốc phiện (Papaver somniferum L.), họ Thuốc phiện (Papaveraceae). Cây này trước đây có trồng ở một số vùng núi cao nước ta, ngày nay cấm trồng v́ liên quan tới tệ nạn ma tuư.

Thành phần hoá học chính: Nhựa thuốc phiện, alcaloid (morphin, codein, papaverin...). Các acid hữu cơ (meconic, malic, lactic...).

Công dụng: Trị ho lâu ngày, tiêu chảy lâu ngày, giảm đau trong các cơn đau như đau bụng, đau gân cốt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 2-6g, dạng thuốc sắc hay thuốc bột.

 

BA CHẠC

Tên khoa học: Evodia lepta (Spreng) Merr.,, họ Cam (Rutaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Lá (Folium Evodiae leptae), vỏ thân, vỏ rễ (Cortex Evodiae leptae).

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu (có thành phần chủ yếu là pinen và furfuraldehyd), alcaloid.

Công dụng:

Lá và cành tươi nấu với nước để rửa các vết thương, vết loét, mụn nhọt, lở ngứa, chốc đầu.

Vỏ thân và vỏ rễ, lá được làm thuốc bổ đắng, dùng làm chè uống cho phụ nữ sau khi đẻ (làm cho ăn ngon miệng, dễ tiêu hoá), chữa phong thấp, đau nhức xương, tê mỏi.

Cách dùng, liều lượng: Mỗi ngày 4-12g dạng nước sắc.

 

 

BA CHẼ

Tên khác: Niễng đực, Ván đất.

Tên khoa học: Desmodium cephalotes (Roxb). Wight et Arn. = Dendrolobium triangulare (Retz.) Schinler, họ Đậu (Fabaceae).

Bộ phận dùng: Lá, rễ.

Thành phần hoá học chính: Lá chứa tanin, flavonoid, acid hữu cơ, alcaloid.

Công dụng: Lá dung chữa kiết lỵ. Rễ được dùng trong các bài thuốc làm mạnh gân cốt.

Cách dùng, liều lượng: Lá phơi khô, sao vàng 30-50g đun trong nước 15-30 phút chia 2-3 lần uống trong ngày.

Chú ư: Tránh nhầm lẫn cây Ba chẽ với cây Niễng cái (Đậu ma) Moghania macrophylla (Willd.) O.Ktze.

 

BA GẠC

Tên khác: La phu mộc.

Tên khoa học: Rauvolfia verticillata (Lour.) Baill. = R. chinensis Hemsl. (Ba gạc); R. vomitoria Afz. (Ba gạc bốn lá); R. cambodiana Pierre (Ba gạc lá to); Rauvolfia canescens L. (Ba gạc Cuba); R. serpentina (L.) Benth. ex Kurz.  (Ba gạc Ấn Độ), họ Trúc đào (Apocynaceae). Những loài này mọc hoang hoặc được đưa từ các nước khác về trồng ở nước ta.

Bộ phận dùng: Vỏ rễ và rễ (Cortex et Radix Rauvolfiae).

Thành phần hoá học chính: Nhiều alcaloid (0,8%), trong đó quan trọng nhất là reserpin, serpentin, ajmalin.

Công dụng: Chiết xuất alcaloid (reserpin, ajmalin, alcaloid toàn phần) dùng dưới dạng viên nén chữa cao huyết áp. Ajmalin dùng chữa loạn nhịp tim dưới dạng thuốc viên và thuốc tiêm.

 

BA KÍCH

Radix Morindae officinalis

Tên khác: Ba kích thiên, Dây ruột gà.

Nguồn gốc: Rễ phơi hay sấy khô của cây Ba kích (Morinda officinalis How.), họ Cà phê (Rubiaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở một số vùng đồi núi nước ta.

Thành phần hoá học chính: Anthranoid, iridoid glycosid, đường, nhựa, acid hữu cơ, vitamin C...

Công dụng: Là thuốc bổ, tăng lực dùng cho người cao tuổi, chữa liệt dương, di tinh đau lưng mỏi gối. Dùng cho phụ nữ khó có thai, kinh nguyệt chậm, bế kinh...

Cách dùng, liều lượng: Ngày 8-16g dưới dạng thuốc sắc hay rượu thuốc. Phối hợp trong các bài thuốc bổ thận.

Chú ư: Tránh nhầm với Dây mộc thông (Clematis chinensis Osbeck) cũng gọi là Dây ruột gà.

 

 

BÁ BỆNH

Tên khác: Bách bệnh, Mật nhân.

Tên khoa học: Eurycoma longifolia Jack,, họ Thanh thất (Simaroubaceae). Cây mọc hoang ở vùng rừng núi nước ta.

Bộ phận dùng: (Folium Eurycomae longifoliae), thân, vỏ thân (Cortex Eurycomae longifoliae), rễ (Radix Eurycomae longifoliae).

Thành phần hoá học chính: Các hợp chất triterpen, alcaloid, chất đắng (Eurycomalacton)...

Công dụng: Lá Bá bệnh làm thuốc chữa chàm trẻ em, thân, rễ làm thuốc chữa sốt, tiểu tiện ra máu, chữa đau bụng, ăn không tiêu, đầy hơi, chướng bụng, thuốc tăng cường sinh lực.

Cách dùng, liều lượng:

Ngày 4-6g dưới dạng thuốc sắc, phối hợp với các vị khác.

Chú ư: Không dùng Bá bệnh cho phụ nữ mang thai.

 

BẠC HÀ

Tên khoa học: Mentha avensis L. Mentha arvensis L. (Bạc hà Á), họ Bạc hà (Lamiaceae). Cây được trồng ở nhiều địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây  (Herba Menthae arvensii)

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, trong đó thành phần chủ yếu là menthol.

Công dụng: Chữa cảm cúm, nhức đầu, ngạt mũi, viêm họng, kích thích tiêu hoá, chữa đau bụng, đầy bụng.

Cất tinh dầu Bạc hà và chế menthol, sản xuất dầu cao sao vàng, làm chất thơm cho các sản phẩm thực phẩm như bánh kẹo, thuốc đánh răng, và trong một số ngành kỹ nghệ khác.

Cách dùng, liều lượng: Cây Bạc hà được trồng chủ yếu dùng để cất tinh dầu. Y học dân tộc dùng lá Bạc hà tươi để xông chữa cảm cúm, phơi khô dùng trong các bài thuốc kết hợp với các vị thuốc khác, 12-20g mỗi ngày.

 

BẠC THAU

Tên khác: Bạc sau, Bạch hạc đằng, Thảo bạc, Chấp miên.

Tên khoa học: Argyreia acuta Lour., họ B́m b́m (Convolvulaceae). Cây mọc hoang khắp nơi.

Bộ phận dùng: Lá và cành (Herba Argyreae).

Thành phần hoá học chính: Chưa thấy tài liệu nghiên cứu.

Công dụng: Chữa ho, chữa rong kinh, rong huyết, kinh nguyệt không đều, khí hư bạch đới, chữa vết thương, mụn nhọt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 6-12g cành, lá khô dạng nước sắc. Dùng ngoài: giă cành, lá tươi đắp lên mụn nhọt đă vỡ mủ để chóng lên da non.

 

 

BÁCH BỘ

Radix Stemonae

Nguồn gốc: Rễ củ đă chế biến khô của cây Bách bộ (Stemona tuberosa Lour.), họ Bách bộ (Stemonaceae). Cây mọc hoang ở các vùng núi nước ta và nhiều nước khác. Ở Trung Quốc vị thuốc Bách bộ c̣n được khai thác từ các loài S. japonica Miq., S. sessilifolia (Miq.) Franch. et Savat.

Thành phần hoá học chính: Các alcaloid (Tuberstemonin stemonin, stemonidin), carbohydrat.

Công dụng: Chữa ho, ghẻ lở, tẩy giun, diệt côn trùng.

Cách dùng, liều lượng:

Chữa ho 3-15g mỗi ngày dưới dạng thuốc sắc, cao, bột.

Tẩy giun 7-10g dưới dạng thuốc sắc, uống sáng sớm vào lúc đói. Uống trong 5 ngày, sau đó tẩy.

Đốt rễ Bách bộ hơ khói để diệt ruồi muỗi, dĩn. Nấu nước để rửa hoặc nấu cao để bôi ghẻ lở.

 

BÁCH HỢP

Bulbus Lilii brownii

Nguồn gốc: Thân hành đă chế biến khô của cây Bách hợp (Lilium brownii var. colchester Wils.), họ Hành (Liliaceae), dược liệu dưới dạng các vẩy mỏng. Cây Bách hợp mọc hoang ở vùng núi cao phía Bắc nước ta. Vị thuốc chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Tinh bột (30%), protid (4%), lipid (0,1%), vitamin C, alcaloid.

Công dụng: Bách hợp nhuận phế, chỉ khái, b́nh tâm, an thần. Chữa các triệu chứng đau ngực, thổ huyết, viêm phế quản, mệt mỏi hồi hộp, chữa ho nhiều.

Cách dùng, liều lượng: Phối hợp với các vị thuốc như Bách bộ, Mạch môn, Thiên môn...trong các phương thuốc bổ phế chỉ khái, chữa ho lao, suy nhược. Ngày dùng 15-30g dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn, tán.

Chuyển lên đầu trang 

 

BẠCH BIỂN ĐẬU

Semen Lablab

Tên khác: Đậu ván trắng.

Nguồn gốc: Hạt già phơi khô của cây Đậu ván trắng (Lablab vulgaris Savi. = Dolichos lablab L.), họ Đậu (Fabaceae). Cây được trồng ở nhiều địa phương nước ta.

Thành phần hoá học chính: carbohydrat (57%), protein (21%), lipid (2%), calci, phospho, sắt, vitamin B1, vitamin C...

Công dụng: Bạch biển đậu chữa cảm sốt mùa hè, nôn mửa, đầy bụng, khó tiêu. Chữa rối loạn tiêu hoá kéo dài ở trẻ em, chữa ngộ độc rượu, cá nóc...

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 8-16g, dạng thuốc sắc hay thuốc bột. Thường kết hợp với các vị thuốc: ư dĩ, Đảng sâm, Liên nhục, Trần b́, Bạch truật...

 

BẠCH CẬP

Rhizoma Bletillae

Nguồn gốc: Thân rễ chế biến, phơi hay sấy khô của cây Bạch cập (Bletilla striata (Thunb.) Reichb.f.= Bletilla hyacinthina R. Br. ex Ait.), họ Lan (Orchidaceae). Cây mọc hoang ở vùng núi cao hoặc trồng làm thuốc và làm cảnh.

Thành phần hoá học chính: Chất nhầy.

Công dụng: Làm thuốc cầm máu trong trường hợp viêm phổi ho ra máu, chảy máu cam, chữa vết thương, bỏng, chân tay nứt nẻ. Chữa ung nhọt sưng đau.

Cách dùng, liều lượng: Thường phối hợp trong các đơn thuốc chữa bệnh phổi, ho ra máu. Ngày 2-6g, dạng thuốc sắc.

Bạch cập tán thành bột mịn, hoà vào dầu vừng, bôi lên vết bỏng để chữa bỏng.

 

BẠCH CHỈ

Radix Angelicae dahuricae

Nguồn gốc: Rễ phơi hay sấy khô của cây Hàng bạch chỉ (Angelica dahurica (Fisch.) Benth. et Hook.) hoặc cây Xuyên bạch chỉ (Angelica anomala Ave-Lall.), họ Cần (Apiaceae). Cây Bạch chỉ được nhập trồng nhiều ở nước ta.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, coumarin, tinh bột.

Công dụng: Làm thuốc giảm đau, nhức đầu phía trán, chữa cảm, đau răng, ngạt mũi, viêm mũi chảy nước hôi, khí hư, phong thấp, đau do viêm dây thần kinh.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-12g. Dạng thuốc sắc hay hoàn, tán.

Ghi chú: Bạch chỉ nam là rễ củ của cây Bạch chỉ nam (Milletia pulchra Kurz.), họ Đậu (Fabaceae). Cây mọc hoang tại các vùng núi nước ta, dùng cho trẻ em kém ăn, chậm lớn (uống). Dùng ngoài chữa lở sơn, cầm máu, lên da non.

 

BẠCH CƯƠNG TÀM

Bombyx Botryticatus

Tên khác: Cương tàm, Tằm vôi.

Nguồn gốc: Con tằm nuôi lấy tơ (Bombyx mori L.), họ Tằm tơ (Bombycidae), chết do nhiễm vi nấm Botrytis bassiana Bals. = Beauveria bassiana (Bals.) Vuill., họ Mucedinaceae, đem phơi hay sấy khô.

Thành phần hoá học chính: Protid, lipid.

Công dụng: Trị trúng phong mất tiếng, tai biến mạch máu năo, méo miệng, chân tay co rút, tinh thần bất ổn, lao hạch, trẻ con khóc đêm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g, trẻ em dưới 15 tuổi dùng 1-6g dạng thuốc sắc hay thuốc bột, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

 

BẠCH ĐÀN

Tên khoa học: Eucalyptus sp., họ Sim (Myrtaceae). Loài thường dùng ở nước ta là Bạch đàn trắng (E. camaldulensis Dehnhardt), Bạch đàn liễu (E. exserta F.V.Muell), Bạch đàn chanh (E. citriodora Hook.f).   

Tên khác: Khuynh diệp.

Bộ phận dùng: Lá (Folium Eucalypti), ngọn mang lá.

Thành phần hoá học: Tinh dầu, thành phần khác nhau tuỳ theo loài. Thành phần chủ yếu là cineol, citronelal.

Công dụng, cách dùng: Lá khô sử dụng dưới dạng cồn thuốc, làm thuốc ho chữa viêm phế quản măn tính. Lá tươi dùng nấu nước xông chữa cảm sốt nóng, làm ra mồ hôi. Lá Bạch đàn tươi chủ yếu dùng để cất tinh dầu. Tinh dầu Bạch đàn làm cao xoa và làm hương liệu. Một số chế phẩm chứa tinh dầu Bạch đàn làm thuốc diệt muỗi, chấy rận, rệp, bọ chét, diệt khuẩn và tẩy uế.

 

BẠCH ĐẬU KHẤU

Fructus Amomi cardamomi

Nguồn gốc: Quả gần chín phơi khô của cây Bạch đậu khấu (Amomum cardamomum L.), họ Gừng (Zingiberaceae). Cây mọc hoang, được trồng ở nước ta và nhiều nước khác.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu trong đó thành phần chủ yếu là borneol và campho.

Công dụng: Chữa đau bụng lạnh, đầy hơi, nôn oẹ, ăn không tiêu, tiêu chảy, trúng độc rượu.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 4-8g, dạng thuốc sắc, bột.

Ghi chú: Hồng đậu khấu (Fructus Alpinia galangae), c̣n gọi Sơn khương tử, là quả của cây Riềng nếp (Alpinia galanga Willd.); Thảo đậu khấu: (Semen Alpiniae katsumadai) là hạt của cây Thảo khấu (Alpinia katsumadai Hayt.), họ Gừng, cả hai vị thuốc này có thể dùng thay thế Bạch đậu khấu.

 

 

BẠCH ĐỒNG NỮ

Tên khác: Ṃ trắng, Bấn trắng.

Tên khoa học: Clerodendrum viscosum Vent.=Clerodendrum canescens Wall., họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi ở nước ta.

Bộ phận dùng: Thân, cành mang lá (Herba Clerodendri); Rễ (Radix Clerodendri).

Thành phần hóa học: Alcaloid, flavonoid, muối calci.

 Công dụng: Chữa kinh nguyệt không đều, viêm loét tử cung, bệnh phụ nữ, mụn nhọt, viêm mật vàng da, huyết áp cao.

Cách dùng, liều lượng: Dạng thuốc sắc mỗi ngày 15-20g.

Ghi chú: Loài Ṃ trắng (Clerodendrum fragrans (Vent.) Willd.), Xích đồng nam (Clerodendrum squanmatum Vahl.), Ṃ mâm xôi (Clerodendrum philippinum Schauer var. simplex Wu et Fang) được dùng với cùng công dụng.

 

BẠCH GIỚI TỬ

Semen Sinapis albae

Nguồn gốc: Hạt phơi hay sấy khô của cây Cải bẹ trắng (Brassica alba Boiss.), họ Cải (Brassicaceae). Cây được trồng ở nhiều nơi trong nước, lấy lá làm rau ăn, lấy hạt làm thuốc.

Tên khác: Hạt cải trắng.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid, thioglycosid, enzym, tinh dầu.

Công dụng: Bạch giới tử chữa ho hen nhiều đờm, c̣n dùng chế bột mù tạc thay gia vị.

Cách dùng, liều lượng: 6-12g mỗi ngày, dạng thuốc sắc.

Ghi chú: Hắc giới tử là hạt của cây Brassica nigra Koch. Giới tử là hạt của cây Cải (Brassica juncea L.) dùng chữa ho hen. La bạc tử (Semen Raphani sativi) là hạt cây cải củ (Raphanus sativus L. var. longipinnatus Bail.).

 

BẠCH HOA XÀ

Tên khác:   Cây đuôi công.

Tên khoa học: Plumbago zeylanica L., họ Đuôi công (Plumbaginaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi ở Việt Nam và các nước Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc...

Bộ phận dùng: Rễ, lá (Folium Plumbaginis).

Thành phần hoá học chính: Plumbagin (metyl-2-hydroxy-5- naphtoquinon-1-4).

Công dụng: Làm thuốc chữa bệnh ngoài da, chữa mụn nhọt, ghẻ lở.

Cách dùng, liều lượng: Rễ, lá giă nhỏ đắp lên nơi sưng đau. Sắc rễ lấy nước bôi ghẻ.

Chú ư: Ở nước ta c̣n có cây mang tên Đuôi công hay Xích hoa xà (Plumbago rosea L.), cùng họ, mọc hoang ở nhiều nơi, nhân dân sử dụng như cây Bạch hoa xà.

 

Chuyển lên đầu trang

BẠCH HOA XÀ THIỆT THẢO

Tên khác: Cỏ lưỡi rắn hoa trắng

Tên khoa học: Oldenlandia diffusa (Willd.) Roxb. Syn. Hedyotis diffusa Willd., họ Cà phê (Rubiaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Hedyotidis diffusae). Rửa sạch, dùng tươi, phơi khô hay sao vàng.

Thành phần hoá học chính: Acid hữu cơ.

Công dụng: Chữa sốt, ho, chữa viêm da, sỏi mật, viêm gan, viêm họng, viêm đường tiết niệu, thường dùng trong một số bài thuốc hỗ trợ điều trị ung thư.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g dược liệu khô, dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Phân biệt với Cỏ lưỡi rắn (Oldenlandia corymbosa L.), họ Cà phê (Rubiaceae) (xem 116. Cỏ lưỡi rắn).

 

 

BẠCH HẠC

Tên khác: Kiến c̣, Nam uy linh tiên.

Tên khoa học: Rhinacanthus communis Nees. , họ Ô rô (Acanthaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nước ta.

Bộ phận dùng: Rễ (Radix Rhinacanthi).

Thành phần hoá học chính: Anthranoid (rhinacanthin).

Công dụng, cách dùng:

Chữa huyết áp cao, trị phong thấp, nhức gân, tê bại. Ngày uống 10-15g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Rễ có thể rửa sạch, bóc lấy vỏ phơi khô ngâm trong rượu, dấm để uống.

Trị hắc lào (ngâm rễ với dầu hoả, xoa lên vết hắc lào).

 

BẠCH LINH

Poria

Tên khác: Bạch phục linh, phục linh, Phục thần, Xích phục linh, Phục linh b́.

Nguồn gốc: Quả thể của nấm Poria cocos Wolf., họ Nấm lỗ (Polyporaceae). Một số rừng thông ở vùng khí hậu mát của nước ta cũng có loại nấm này nhưng chưa được nuôi trồng và khai thác, vị thuốc chủ yếu c̣n phải nhập từ Trung Quốc.

Bộ phận dùng:

 Bạch linh chia thành 4 thứ:

- Phục linh b́ (Pericarpium Poria) là phần ngoài của quả thể có có lớp vỏ ngoài màu xám nâu.

- Xích phục linh là lớp thứ 2 sau vỏ ngoài (Poria Rubra).

- Bạch phục linh là phần bên trong màu trắng, thường được sơ chế thành phiến h́nh khối vuông dẹt.

- Phục thần là những quả thể có lơi gỗ (rễ thông) ở giữa.

Thành phần hoá học chính: đường (trong đó có pachymose là đường đặc hiệu), các hợp chất triterpenoid, các chất khoáng.

Công dụng:

- Phục linh b́: Làm thuốc lợi tiểu, trị phù thũng.

- Xích phục linh: Chữa thấp nhiệt (chướng bụng, viêm bàng quang, tiểu vàng, tiểu rắt).

- Bạch phục linh: Chữa ăn uống kém tiêu, đầy chướng, bí tiểu tiện, ho có đờm, tiêu chảy.

- Phục thần: Trị yếu tim, hoảng sợ, hồi hộp, mất ngủ.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g. Dạng thuốc sắc, hoàn, tán, thường được sử dụng phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Trên thị trường thường gặp Bạch phục linh giả dưới dạng các khối vuông gồm một lượng nhỏ Bạch phục linh vụn ép với tinh bột.

 

 BẠCH MAO CĂN

Rhizoma Imperatae

Nguồn gốc: Thân rễ đă phơi hay sấy khô của cây Cỏ tranh (Imperata cylindrica P. Beauv.), họ Lúa (Poaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi, lá lợp nhà, thân rễ làm thuốc.

Thành phần hoá học chính: Glucose, fructose, acid hữu cơ, muối khoáng.

Công dụng: Chữa sốt khát nước, hoàng đản, tiểu tiện ít, tiểu buốt, tiểu ra máu, ho ra máu, chảy máu cam, chữa hen suyễn.

Cách dùng, liều lượng: Rễ cỏ tranh kết hợp với Râu ngô, Mă đề làm thuốc lợi tiểu, thanh nhiệt, kết hợp với Xa tiền tử chữa đi tiểu ra máu. Ngày 10-40g, dạng thuốc sắc.

Chú ư: Phụ nữ có thai không nên dùng Bạch mao căn.

 

BẠCH QUẢ

Tên khác: Ngân hạnh

Tên khoa học: Ginkgo biloba L., thuộc họ Bạch quả (Ginkgoaceae). Dược liệu(cao, quả) phải nhập từ Trung Quốc.

Bộ phận dùng: Lá nấu thành cao, Hạt già phơi hay sấy khô (Semen Ginkgo).

Thành phần hoá học chính: Trong lá có flavonoid và hợp chất diterpen. Hạt có protein, lipid.

Công dụng: Lá dùng trong nhiều phương thuốc làm tăng tuần hoàn máu. Thuốc dùng cho những người có biểu hiện năo suy, rối loạn trí nhớ. Hạt chữa ho, hen, đờm suyễn, tiểu đục, tiểu nhiều, tiểu són, tiểu dầm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 4-9g dạng thuốc sắc hay hoàn tán, thường phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: - Không dùng hạt Bạch quả sống v́ có độc.

- Cao chiết từ lá cây Bạch quả đă được bào chế thành biệt dược "Ginkogink", "Tanakan"...

 

Chuyển lên đầu trang

 BẠCH TẬT LÊ

Fructus Tribuli terrestris

Tên khác: Thích tật lê, Gai ma vương, Gai trống.

Nguồn gốc: Quả chín phơi hay sấy khô của cây Bạch tật lê (Tribulus terrestris L.),(Tribulus terrestris L.), họ Tật lê (Zygophyllaceae). Cây mọc hoang ở ven sông, biển một số tỉnh miền Nam nước ta.

Thành phần hoá học chính: Quả chứa nhiều saponin steroid, chất béo, flavonoid...

Công dụng: Chữa đau mắt, nhức vùng mắt, hay chảy nước mắt, giảm thị lực. Làm thuốc bổ thận, chữa di tinh, liệt dương, đau lưng. Chữa kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng. Chữa đái dầm ở trẻ em. Chữa loét miệng, viêm họng đỏ, sưng lợi, viêm chân răng có mủ...

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 12-16g, dạng thuốc bột hay thuốc sắc.

 

 

BẠCH THƯỢC

 Radix Paeoniae alba, Radix Paeoniae lactiflorae

Tên khác: Thược dược.

Nguồn gốc: Vị thuốc là rễ đă cạo bỏ lớp bần và chế biến khô của cây Thược dược (Paeonia lactiflora Pall.), họ Hoàng liên (Ranunculaceae). Vị thuốc nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Tinh bột, tanin, calci oxalat, tinh dầu, chất béo, chất nhầy, acid benzoic.

Công dụng: Trị đau ngực sườn, mồ hôi trộm, huyết hư, thai nhiệt, kinh nguyệt không đều.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc.

Ghi chú: - Xích thược (Radix Paeoniae rubra) là rễ cây mọc hoang của các loài Thược dược Paeonia lactiflora Pall., P. obovata Maxim, P. veitchii Lynch., có công dụng tương tự như Bạch thược.

- Cần phân biệt với cây Thược dược (Dahlia variabilis Desf), họ Cúc (Asteraceae).

 

BẠCH TRUẬT

Rhizoma Atractylodes macrocephalae

Nguồn gốc: Thân rễ phơi khô của cây Bạch truật (Atractylodes macrocephala Koidz.)(Atractylodes macrocephala Koidz., họ Cúc (Asteraceae). Cây có di thực vào nước ta. Dược liệu chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hóa học: Tinh dầu (1%), trong đó chủ yếu là atractylol và atractylon.

Công dụng: Thuốc bổ. Chữa viêm gan nhiễm trùng, chữa tiểu đường. Giúp tiêu hóa, chữa bụng đầy hơi, nôn mửa, đi ngoài phân sống, chữa viêm dạ dày cấp và măn tính. Chữa viêm dây thần kinh vùng thắt lưng, chữa chứng đái dầm ở người lớn tuổi.

Cách dùng, liều lượng: 10-20g mỗi ngày, dạng thuốc sắc, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Ghi chú: Trên thị trường nước ta có vị thuốc mang tên Bạch truật nam hay Truật nam thường đă thái phiến mầu trắng. Đó là thân rễ của cây Gynura pseudochina DC., họ Cúc (Asteraceae). Vị thuốc này để nguyên gọi là Thổ tam thất.

 

BÁN BIÊN LIÊN

Tên khác:   Cây lô biên.

Tên khoa học: Lobelia radicans Thunb. = Lobelia chinensis Lour., họ Lô biên (Lobeliaceae). Cây mọc hoang ở một số vùng núi cao trong nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Lobeliae radicantis).

Thành phần hoá học: Saponin, acid amin, flavonoid.

Công dụng: Chữa ung thư phổi, chữa vàng da, phù thũng, tiểu tiện khó, trị rắn độc cắn, mụn nhọt, đầu đinh.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-30g dưới dạng thuốc sắc, kết hợp với các dược liệu khác. Dùng ngoài (giă đắp lên vết rắn cắn) không kể liều lượng.

Chuyển lên đầu trang

BÁN CHI LIÊN

Tên khác: Hoàng cầm râu.

Tên khoa học: Scutellaria barbata D.Don = Scutellaria rivularis Wall., họ Bạc hà (Lamiaceae). Cây mọc hoang ở một số tỉnh miền Bắc nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Scutellariae barbatae).

Thành phần hoá học: Flavonoid, alcaloid, sterol, tanin.

Công dụng: Chữa đinh nhọt, lợi tiểu, chữa viêm gan, dùng trong một số bài thuốc hỗ trợ điều trị chữa ung thư.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 20-40g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hoặc kết hợp với các loại thuốc khác.

 

BÁN HẠ

Rhizoma Typhonii trilobati

Nguồn gốc: Dược liệu là thân rễ đă chế biến khô của cây Củ chóc (Typhonium trilobatum (L.) Schott.), họ Ráy (Araceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Thành phần hóa học: Tinh bột, saponin, alcaloid.

Công dụng: Thuốc chống nôn, trừ đờm, chữa ho nhiều đờm, tiêu hoá kém, ngực bụng đầy chướng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-16g, dạng thuốc sắc hay bột. Trước khi dùng phải chế biến cho gần hết ngứa. Có nhiều quy tŕnh chế biến khác nhau, phụ liệu thường là nước vo gạo, nước vôi trong, Gừng, Cam thảo...

Ghi chú: Vị thuốc Bán hạ bắc (Rhizoma Pinelliae) là thân rễ cây Bán hạ [Pinellia ternata (Thunb.) Breit], họ Ráy (Araceae) (Dược điển Việt Nam lần xuất bản thứ tư).

Thân rễ đă chế biến của loài Typhonium gigantenum Engl. (Rhizoma Typhonii) được gọi là Bạch phụ tử. Chú ư tránh nhầm lẫn với Bạch phụ tử là tên gọi khác của cây San hô (cây Dầu mè đỏ) (xem Đỗ trọng).

 

BÀNG ĐẠI HẢI

Semen Sterculiae lychnopherae

Tên khác: Hạt lười ươi, An nam tử.

Tên khoa học: Là hạt phơi hoặc sấy khô thu từ quả chín của cây Lười ươi (Sterculia lychnophera Hance = Scaphyum lychnophorum (Hance) Kost.), họ Trôm (Sterculiaceae). Cây mọc hoang ở nhiều địa phương miền Nam nước ta.

Thành phần hoá học chính: chất béo, flavonoid.

Công dụng: Chữa ho khan, viêm họng mất tiếng, táo bón, đại tiện ra máu, mụn lở. Hạt Lười ươi làm thuốc bổ mát, trị các chứng đau ruột và các bệnh về đường tiêu hoá, dùng nhiều, liên tục không gây độc hại.

Hạt Lười ươi c̣n có tác dụng chữa sốt, chảy máu cam, cảm nắng, đau mắt, đau răng, chữa tiêu chảy kiết lỵ.

Cách dùng, liều lượng: Khi dùng lấy 4-5 hạt cho vào 1 lít nước nóng. Sau khi ngâm hạt nở to thành chất nhầy sền sệt như thạch, màu nâu nhạt, trong, vị hơi chát, thêm đường, uống nhiều lần trong ngày.

 

 

BẰNG SA

Tên khác: Hàn the.

Thành phần hoá học: Na2B4O7. 10H2O

Công dụng: Chữa sốt, tiêu viêm, chữa viêm họng, chữa ho.

Chú ư: Bằng sa gây tổn thương gan, chậm lớn, có thể gây tử vong nếu dùng liều cao. Dùng liều thấp trên súc vật làm teo tinh hoàn, liệt dương, tổn thương gan thận. Khi ăn vào Bằng sa tích luỹ ở lớp mỡ dưới da, ở gan và năo. Dùng thường xuyên Bằng sa làm ăn mất ngon, suy gan, suy nhược cơ thể. Năm 1983 WHO đă cấm dùng Bằng sa và acid boric trong thực phẩm với bất kỳ liều lượng nào.

 

BÁT GIÁC PHONG

Tên khác:   Thôi chanh, thôi ba.

Tên khoa học: Alangium chinense (Lour.) Harms.= Stylidium chinense Lour., họ Thôi chanh (Alangiaceae). Cây mọc hoang ở một số tỉnh miền Bắc nước ta.

Bộ phận dùng: Rễ (Radix Alangii).

Thành phần hoá học: Rễ chứa dl-anabasin, neonicotin, veroterpin.

Công dụng: Chữa phong thấp, đau mỏi, bán thân bất toại, chữa vết thương do đánh đập. Chữa tâm thần phân liệt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 3-6g dưới dạng thuốc sắc, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Bát giác phong có độc, không dùng cho phụ nữ có thai, trẻ em và người già ốm yếu.

 

 

BẢY LÁ MỘT HOA

Rhizoma Parisi Polyphyllae

Tên khác:   Thất diệp nhất chi hoa, Tảo hưu.

Tên khoa học: Paris polyphilla Sm. = Daiswa polyphylla (Sm.) Raf. một số loài khác thuộc chi Paris như P. delavayi Franch., P. hainannensis Merr., họ Bảy lá một hoa (Triliaceae). Cây mọc hoang ở một số vùng núi cao nước ta.

Bộ phận dùng: Thân rễ.

Thành phần hoá học: Saponin, tinh bột.

Công dụng: Chữa trẻ em sốt cao, co giật, lên sởi, rắn độc cắn, ho lâu ngày, hen suyễn.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-12g dưới dạng thuốc sắc, dùng ngoài (giă đắp lên nơi sưng đau) không kể liều lượng. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

 

BÈO CÁI

Tên khác: Bèo ván, Đại phù binh.

Tên khoa học: Pistia stratiotes L., họ Ráy (Araceae). Cây có ở hầu hết các địa phương.

Bộ phận dùng: Toàn cây, chủ yếu là lá (Herba Pistiae).

Thành phần hoá học chính: Protein, chất béo, carbohydrat, vitamin, sistosterol.

Công dụng: Chữa chàm, sốt không ra mồ hôi, chữa mụn nhọt, mẩn ngứa, hen suyễn. Chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ, giảm trí nhớ. Chữa viêm thận cấp, phù thũng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 50-100g dạng thuốc sắc, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

 

 

 

BÈO TẤM

Tên khác: Phù binh, Tử b́nh, Bèo tấm tía.

Tên khoa học: Spirodela polyrrhiza (L.) Schield., họ Bèo tấm (Lemmaceae). Cây có ở hầu hết các địa phương.

Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Spirodelae polyrrhizae).

Thành phần hoá học chính: Bèo tấm chứa carbohydrat, protein, sistosterol.

Công dụng: Giải nhiệt, lợi tiểu. Chữa sởi không mọc, mẩn ngứa, phù thũng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 3-9g dạng thuốc sắc để uống, Dùng ngoài với lượng thích hợp, sắc lấy nước để ngâm rửa.

Ghi chú: Theo một số tài liệu nước ta c̣n có loài Bèo tấm có tên khoa học Lemna minor L. loài này cũng phát triển phổ biến trong các ao đầm, thường dùng làm thức ăn xanh cho lợn, vịt, ngan, ngỗng.

 

 BÍ KỲ NAM

Tên khác: Kiến kỳ nam, Kỳ nam kiến.

Tên khoa học: Hydnophytum formicarium Jack = Hydnophytum montanum Blume, họ Cà phê (Rubiaceae). Cây mọc hoang ở một số tỉnh miền Nam nước ta.

Bộ phận dùng: Phần thân ph́nh thành củ,thái thành miếng mỏng, phơi khô.

Thành phần hoá học chính: Chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu. Một số kết quả nghiên cứu cho thấy trong phần thân ph́nh thành củ có muối vô cơ, vết alcaloid.

Công dụng: Bí kỳ nam chữa đau nhức gân xương, thấp khớp. Chữa các bệnh về gan như viêm gan, vàng da, ăn uống khó tiêu, đau bụng đi ngoài.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 12-16g dạng thuốc sắc, ngâm rượu uống. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

 

BÍ NGÔ

Tên khác: Nam qua tử, Bí đỏ, Bù rợ.

Tên khoa học: Cucurbita pepo L., họ Bí (Cucurbitaceae). Cây được trồng nhiều nơi làm thực phẩm.

Bộ phận dùng: Hạt (Semen Curcubitae), Thịt quả.

Thành phần hoá học chính: Dầu béo (50%), chất nhựa, acid hữu cơ, vitamin.

Công dụng: Hạt tẩy sán, thịt quả chữa nhức đầu.

Cách dùng, liều lượng: Hạt bóc hết vỏ cứng, để nguyên màng xanh ở trong, giă nhỏ trộn với đường, ăn vào lúc đói, sau khoảng 3 giờ uống thuốc tẩy muối (30g magie sulfat), đi ngoài trong một chậu nước ấm. Người lớn dùng khoảng 100g nhân hạt. Trẻ con 3-4 tuổi dùng 30g; 5-10 tuổi dùng 75g.

 Chuyển lên đầu trang

 

BINH LANG

Semen Arecae

Nguồn gốc: Vị thuốc là hạt già phơi hay sấy khô của cây Cau (Areca catechu L.), họ Cau (Arecaceae). Cây được trồng khắp các miền nước ta.

Thành phần hoá học chính: Tanin (50%), dầu béo (10%), alcaloid (3%).

Công dụng: Chữa sán, giúp tiêu hoá, chữa viêm ruột, lỵ, ngực bụng chướng đau, thuỷ thũng, sốt rét, cước khí sưng đau.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 4-6g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán, để trị sán thường phối hợp với hạt Bí ngô, để trị sốt rét phối hợp với Thường sơn.

Ghi chú: Vỏ quả Cau già (Pericarpium Arecae) c̣n gọi là Đại phúc b́ dùng làm thuốc lợi tiểu, chữa phù thũng toàn thân, bụng đầy trướng.

 

B̀NH VÔI

Tuber Stephaniae glabrae

Nguồn gốc: Phần gốc thân ph́nh thành củ của cây B́nh vôi (Stephania glabra (Roxb.) Miers.) hoặc một số loài B́nh vôi khác có chứa L-tetrahydropalmatin, họ Tiết dê (Menispermaceae). Cây mọc hoang tại nhiều vùng rừng núi nước ta và một số nước khác, thường gặp trên các núi đá vôi.

Thành phần hóa học: nhiều alcaloid (1%), trong đó quan trọng nhất là L-tetrahydropalmatin và roemerin.

Công dụng: Y học cổ truyền: Làm thuốc trấn kinh, an thần, chữa mất ngủ, sốt nóng, nhức đầu, khó thở, chữa đau dạ dày.

Y học hiện đại: Dùng toàn cây, cao hoặc alcaloid bào chế thành dạng thuốc thích hợp để làm thuốc an thần.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 3-6g bột củ hoặc 10-15ml rượu thuốc 10%.

 

 

BỌ CẠP

Scorpio

Tên khác: Toàn yết, Toàn trùng, Yết tử, Yết vĩ.

Tên khoa học: Buthus sp., họ Bọ cạp (Buthidae). Nước ta có nhiều loài Bọ cạp, vị thuốc phải nhập từ nước ngoài.

Bộ phận dùng: Dùng cả con làm thuốc gọi là Toàn yết, nếu chỉ dùng đuôi gọi là Yết vĩ.

Thành phần hoá học chính: Trong bọ cạp có chất độc katsutoxin có bản chất protein giống như nọc rắn hay nọc độc của một số con vật khác.

Công dụng: Làm thuốc trấn kinh, chữa trẻ em kinh phong, làm thuốc kích thích thần kinh, chữa bán thân bất toại...

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 3-5g dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

 

 

BỒ CÔNG ANH CAO

Tên khác: Bồ công anh, Rau bồ cóc, Diếp dại, Mũi mác.

Tên khoa học: Lactuca indica L.= Lactuca squarrosa Miq., họ Cúc (Asteraceae). Cây mọc hoang và được trồng làm thuốc nhiều nơi trong nước ta và nhiều nước khác. Ở Trung Quóc rễ Bồ công anh cao c̣n được dùng với tên Thổ lực sâm, Thổ nhân sâm...

Bộ phận dùng: Lá, cành (Herba Lactucae) (Folia et Caulis Lactucae)..

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, chất nhựa.

Công dụng: Trị nhọt độc, sưng vú do tắc tia sữa, tràng nhạc. Chữa đau dạ dày, ợ chua, táo bón.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 8-30g sắc uống. Lá tươi giă nát đắp ngoài.

Ghi chú: - Ung nhọt đă vỡ mủ không nên dùng.

- Nên thống nhất gọi tên Lactuca indica là Bồ công anh cao, Tarachacum officinale là Bồ công anh thấp.

 

 BỒ CÔNG ANH THẤP

Tên khác: Bồ công anh

Tên khoa học: Taraxacum officinale Wigg., họ Cúc (Asteraceae) Cây mọc hoang ở vùng núi cao như Đà Lạt, Tam Đảo, Sa Pa.

Mô tả: Cỏ sống dai, rễ h́nh trụ. Lá mọc từ rễ, nhẵn, thuôn dài h́nh trái xoan ngược, có khía răng uốn lượn hoặc xẻ lông chim, mép giống như bị xé rách. Cụm hoa có cuống dài rỗng, từ rễ mọc lên. Hoa màu vàng, quả mang chùm lông, phát tán nhờ gió.

Bộ phận dùng: Rễ phơi sấy khô, toàn cây dung tươi, khô (Herba Taraxaci).

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, nhựa, acid béo.

Công dụng: Chữa sưng vú, tắc tia sữa, chống viêm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g dạng thuốc sắc, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

 

BỒ CU VẼ

Tên khác: Sâu vẽ.

Tên khoa học: Breynia fruticosa Hook.f. họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Cây mọc hoang và được trồng làm thuốc nhiều nơi trong nước ta và nhiều nước khác.

Bộ phận dùng: Lá (Folium Breyniae fruticosae), vỏ thân (Cortex Breyniae fruticosae).

Thành phần hoá học chính: Acid hữu cơ.

Công dụng: Chữa viêm họng, sưng amidan, viêm dạ dày, viêm ruột, chữa rắn cắn, làm thuốc cầm máu, chữa bỏng, mụn nhọt, chữa các vết lở loét.

Cách dùng, liều lượng: 30-40g lá tươi, giă nát vắt lấy nước uống, bă đắp ngoài chữa rắn cắn. Vỏ cây cạo lấy bột rắc lên mụn nhọt, vết lở loét.

 

BỒ KẾT

Tên khác:   Tạo giác.

Tên khoa học: Gleditschia australis Hemsl., họ Đậu (Fabaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi.

Bộ phận dùng: Quả chín khô - Tạo giác (Fructus Gledistsiae Australis). Hạt Bồ kết - Tạo giác tử (Semen Gledistsiae Australis), Gai - Tạo giác thích (Spina Gledistsiae Australis).

Thành phần hoá học chính: Saponin triterpenic có genin là gledis sapogenin, flavonoid.

Công dụng, cách dùng: Chữa hen suyễn, ho nhiều đờm, chữa sâu răng, đau nhức răng, chữa lỵ lâu ngày, thông đại tiện bí kết, điều trị mụn nhọt. Mỗi ngày dùng 5-10g dạng thuốc sắc.

Chú ư: Các loài Bồ kết khác G. sinensis Lamk, G.fera (Lour.) Merr. cũng được dùng với công dụng tương tự.

 

BỔ CỐT CHI

Semen Psoraleae

Tên khác: Bổ cốt chỉ, Hạt đậu miêu, Phá cố chỉ.

Nguồn gốc: Hạt đă phơi hay sấy khô của cây Phá cố chỉ (Psoralea corylifolia L.), họ Đậu (Fabaceae). Nước ta có trồng cây này, dược liệu chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Dầu béo, coumarin.

Công dụng: - Thuốc bổ cho người già yếu, đau lưng, phụ nữ kinh nguyệt không đều, khí hư.

- Hạt ngâm rượu dùng ngoài chữa bệnh bạch biến (da bị trắng từng chỗ).

- Các nước châu Âu thường dùng để chiết xuất coumarin làm thuốc trị các bệnh ngoài da như nấm tóc.

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 6-15g, dùng dạng thuốc sắc, bột, viên.

 

 BỐI MẪU

Bulbus Fritillariae

Nguồn gốc: Thân hành đă phơi hay sấy khô của cây Triết bối mẫu (Fritillaria thunbergii Miq.) cây Xuyên bối mẫu (Fritillaria cirrhosa D. Don), và một số loài Bối mẫu khác (Fritillaria spp.), họ Hành (Liliaceae). Cây ưa khí hậu mát, vùng ôn đới, vị thuốc nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hóa học chính: Các alcaloid, tinh bột.

Công dụng: Chữa viêm phổi, viêm phế quản, hen phế quản, suy nhược cơ thể. Chữa viêm loét dạ dày tá tràng. Chữa ung nhọt, chữa động kinh.

Cách dùng, liều lượng: 6-12 g mỗi ngày, dạng thuốc sắc.

Chú ư: Dược điển Việt Nam III chia thành hai chuyên luận: Triết bối mẫu là thân hành cây Fritillaria thunbergii Miq. Xuyên bối mẫu là thân hành cây Fritillaria cirrhosa D. Don.

 

 

B̉NG BONG

Tên khác: Tḥng bong, Thạch vĩ đằng.    

Tên khoa học: Lygodium sp., họ Ḅng bong (Schizaeaceae). Cây mọc hoang leo trên các cây khác ở bờ bụi.

Bộ phận dùng: Cả dây mang lá (Herba Lygodii.).

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, acid hữu cơ.

Công dụng: Làm thuốc lợi tiểu, chữa tiểu rắt, tiểu buốt, tiểu ra máu, ra sỏi. Làm tan, bài xuất sỏi niệu. Trị chấn thương, chữa ứ huyết, sưng đau.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g dạng nước sắc (thường kết hợp với Thổ phục linh).

Chú ư: Người ta dùng bào tử ở phía sau lá của loài Lygodium japonicum (Thunb.) Sw. gọi là Hải kim sa (Spora Lygodii) trị tiểu buốt, tiểu rắt.

 

BỎNG NỔ

Tên khác: Cây nổ, Bỏng nẻ.

Tên khoa học: Fluggea virosa (Roxb. ex Willd) Voigt = Securinega virosa (Willd.) Pax., họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta và nhiều nước khác.

Bộ phận dùng: Lá, vỏ thân (Cortex Flugeae), rễ.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid (securinin), tanin.

Công dụng: Chữa sốt, sốt rét, chóng mặt, chân tay run rẩy. Chữa sỏi thận, sỏi bàng quang.

Cách dùng, liều lượng: Rễ thái mỏng, phơi sấy khô sao vàng. Ngày uống 6-12g dạng nước sắc.

Chú ư: Tránh nhầm lẫn với cây Bỏng nổ, cũng gọi là Bỏng nẻ (Serissa japonica (Th.) Thunb.), họ Cà phê. Người ta dùng toàn cây để chữa viêm gan, vàng da, chữa viêm thận mạn tính.

 

 

BỒNG BỒNG

Folium Calotropis

Tên khác: Nam t́ bà, cây Lá hen.

Nguồn gốc: Lá phơi hay sấy khô của cây Bồng bồng (Calotropis gigantea R. Br.) họ Thiên lư (Asclepiadaceae).

Thành phần hoá học chính: calotropin.

Công dụng: Làm thuốc chữa hen.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g dưới dạng nước sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Không nhầm với cây Bồng bồng (Dracaena angustifolia Roxb.), họ Thùa (Agavaceae).

Lá khô của cây Nhót tây hay Nhót Nhật Bản (Eryobotrya japonica Lindl.) gọi là Tỳ bà diệp, chú ư tránh nhầm lẫn.

 

BÔNG ỔI

 Tên khác:  Cây Ngũ sắc.

Tên khoa học: Lantana camara L., , họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae). Cây mọc hoang và được trồng làm cảnh.

Bộ phận dùng: Lá, hoa và rễ (Folium, Flos et Radix Lantanae).

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu (cameren, isocameren...), alcaloid (lantanin).

Công dụng, cách dùng: Rễ chữa sốt lâu không khỏi, phong thấp, đau xương, chấn thương, bầm dập, ngày dùng: 30-60g dưới dạng thuốc sắc. Hoa chữa ho lâu ngày, ho ra máu, ngày: 10-12g dạng thuốc sắc. Lá cây giă nát đắp lên vết thương, vết loét, xông chữa cảm mạo, sốt. Dùng ngoài không kể liều lượng. Không nhầm với cây Hoa cứt lợn (Ageratum conzyoides L.) cũng gọi là Hoa ngũ sắc.

  

 

BÙNG BỤC

Tên khác: Bông bét, Bùm bụp.

Tên khoa học: Mallotus apelta (Lour.) Muell., họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Rễ, lá, vỏ cây.

Thành phần hoá học chính: Saponin triterpenoid pentacyclic, Coumarin, alcaloid, dẫn chất benzopyran...

Công dụng: Rễ Bùng bục chữa một số bệnh về đường tiết niệu có triệu chứng tiểu đục, chữa đau dạ dày, lở loét miệng. Chữa trĩ, sa tử cung.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 15-20g dưới dạng nước sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

BỤP GIẤM

Tên khoa học: Hibiscus subdaiffla L., họ Dâm bụt (Malvaceae). Cây được nhập, trồng nhiều ở nước ta.

Bộ phận dùng: Đài hoa, lá.

Thành phần hoá học chính: Flavonoid (hibiscitrin, gossypitrin...), acid hibiscic, acid amin, a,b-caroten...

Công dụng: Kích thích tiêu hoá, tăng tiết mật, lợi tiểu, hạ huyết áp. Là nguồn nguyên liệu có triển vọng để chiết xuất các chất màu thực phẩm.

Cách dùng, liều lượng: Sử dụng dưới dạng rượu vang, trà và nước sắc, hăm.

Chú ư: Lá cây Bụp giấm thường được sử dụng để nấu canh chua, chế nước giải khát. Nước ta có sản xuất rượu vang Hibiscus phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Có hai thứ Bụp giấm Hibiscus sabdariffla L. var. sabdariffla trồng để lấy đài ăn, làm thuốc và thứ Hibiscus sabdariffla L. var. altissima trồng chủ yếu để lấy sợi.

Chuyển lên đầu trang

 

BƯỞI BUNG

Tên khác: Bài bái.

Tên khoa học: Acronychia laurifolia Blume., họ Cam (Rutaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi.

Bộ phận dùng: Rễ, lá, quả.

Thành phần hóa học chính: Tinh dầu (lá, quả), Alcaloid (acronycin).

Công dụng: Rễ chữa phong thấp, lá chữa mụn nhọt, làm thuốc kích thích tiêu hóa cho phụ nữ sau đẻ.

Cách dùng, liều lượng: Rễ bưởi bung sắc nước uống cùng các vị thuốc khác chữa đau ḿnh mẩy, phong thấp. Lá sắc nước uống giúp phụ nữ sau khi đẻ ăn ngon. Lá giă đắp chữa mụn nhọt, lở loét.

Chú ư: Cây cơm rượu (Glycosmis pentaphylla Corr.) cũng được dùng với tên Bưởi bung.

 

CÀ ĐINH

Tên khác: Cà độc dược.

Tên khoa học: Solanum surattense Burm. f., , họ Cà (Solanaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi ở nước ta.

Bộ phận dùng: Dùng toàn cây, tươi hoặc phơi khô.

Thành phần hoá học chính: saponin (solanin, solasonin...).

Công dụng: Chữa đau dạ dày, viêm khoang miệng, trị mụn nhọt, lở loét.

Cách dùng, liều lượng: Rễ phơi khô tán thành bột, uống mỗi ngày 1g. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Dùng ngoài đắp lên vết loét.

Chú ư: Thuốc có độc, cẩn thận khi dùng, tránh nhầm với cây Cà độc dược (Datura metel L.).

 

      CÀ ĐỘC DƯỢC

Tên khác: Mạn đà la hoa.

Tên khoa học: Datura metel L., họ Cà (Solanaceae). Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Lá, hoa (Folium, Flos Daturae), hạt.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid (scopolamin, hyoscyamin, atropin).

Công dụng: Các chế phẩm từ Cà độc dược làm thuốc chống co thắt cơ trơn chữa hen suyễn, viêm phế quản, chữa viêm loét dạ dày, dùng làm thuốc tiền mê, chữa nhiễm độc các chất ức chế men cholinesteraza, chống say tàu xe, say sóng...

Cách dùng, liều lượng:

Thuốc độc bảng A. Dạng cao, bột, cồn từ lá, hoa để uống. Bột, cao lỏng 1/1 - Liều trung b́nh: 0,1g x 3 lần trong một ngày; cồn 1/10-0,5g x 4 lần trong một ngày.

Hoa, lá thái nhỏ phơi khô cuốn vào giấy hút như thuốc lá chữa hen, liều 1-1,5g/ngày.

 

 

CÀ GAI LEO

Tên khác: Cà vạnh, Cà cườm, Cà quánh, Cà quưnh.

Tên khoa học: Solanum hainanense Hance. = Solanum procumbens Lour., họ Cà (Solanaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Rễ (Thích gia căn), dây (Thích gia đằng).

Thành phần hóa học: Rễ và dây có alcaloid, rễ c̣n chứa tinh bột, flavonoid.

Công dụng: Trị cảm cúm, phong thấp, sâu răng, chân răng chảy máu, rắn cắn và dị ứng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 16 -20g, dạng thuốc sắc.

 

CÁ NGỰA

Hippocampus

Tên khác: Hải mă, Thủy mă.

Nguồn gốc: Vị thuốc là toàn thân bỏ ruột phơi khô của một số loài Cá ngựa: Hippocampus kelloggi Jordan et Snyder (Khắc thị hải mă), Hippocampus histrix Kaup (Thích hải mă), H. kuda Bleeker (Đại hải mă), H. tricumalatus Leach (Tam ban hải mă)..., họ Hải long (Syngnathidae). Vùng biển nước ta có một số loài Cá ngựa đang được khai thác và sử dụng.

Thành phần hoá học chính: Protid, lipid.

Công dụng: Thuốc bổ, kích thích sinh dục, chữa liệt dương, phụ nữ khó mang thai, đau lưng mỏi gối, báng bụng. Dùng ngoài chữa đinh độc, u nhọt.

Cách dùng, liều lượng: 4-10g một ngày. Dạng thuốc sắc, bột, rượu, thuốc hoàn.

Chú ư: Cần thận trọng khi dùng cho phụ nữ có thai.

 

 

CAM THẢO

Radix Glycyrrhizae

 Tên khác: Cam thảo bắc.

 Nguồn gốc: Rễ, thân rễ cây Cam thảo bắc (Glycyrrhiza uralensis Fish.) Dược liệu phải nhập từ Trung Quốc. Một số nước châu Âu thường khai thác Cam thảo từ loài Glycyrrhiza glabra L., họ Đậu (Fabaceae).

Thành phần hóa học: Saponin (Glycyrrhizin), flavonoid.

 Công dụng: Y học cổ truyền dùng Cam thảo sống chữa cảm, viêm họng, mụn nhọt, đau dạ dày. Cam thảo chích chữa tiêu chảy, kém ăn, mệt mỏi.

Cách dùng, liều lượng: 2-9g mỗi ngày. Dạng thuốc sắc, cao thuốc, bột, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

 

CAM THẢO DÂY

Tên khác: Dây cườm cườm, Dây chi chi, Cườm thảo.

Tên khoa học: Abrus precatorius L., họ Đậu (Fabaceae). Cây mọc hoang và được trồng làm cây cảnh, làm thuốc ở nhiều địa phương

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Abri Precatorii).

Thành phần hóa học: Thân, rễ và lá Cam thảo dây có L-abrin là chất ngọt tương tự glycirrhizin, flavonoid.

Công dụng: Dùng thay Cam thảo bắc chữa ho, giải cảm, giải độc, chữa vàng da do viêm gan siêu vi trùng. Dùng trong các bài thuốc chữa viêm phế quản măn tính, chữa viêm loét dạ dày tá tràng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 8-16g sắc uống, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác. 

 

 

CAM THẢO ĐẤT

Tên khác: Dă cam thảo, Cam thảo nam, Thổ cam thảo.

Tên khoa học: Scoparia dulcis L., họ Hoa mơm chó (Scrophulariaceae). Cây mọc hoang khắp nơi ở nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Scopariae dulcis).

Thành phần hóa học: Các hợp chất diterpen, flavonoid, acid hữu cơ, alcaloid, tanin...

Công dụng: Có nơi dùng thay Cam thảo bắc, chữa mụn nhọt, cảm sốt, sởi, ho khan (dùng tươi), ho có đờm (sao thơm).

Hoạt chất amellin chiết từ Cam thảo đất dùng điều trị bệnh tiểu đường, thiếu máu, albumin niệu và các biến chứng khác kèm theo bệnh tiểu đường.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 8-12g khô hoặc 20-40g tươi sắc uống.

 

CAM TOẠI

Radix Euphorbiae kansui

Nguồn gốc: Dược liệu là rễ cây Cam toại (Euphorbia kansui Liou. hay Euphorbia sieblodian Morren et Decasne), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc.

Bộ phận dùng: rễ.

Thành phần hoá học chính: Các dẫn chất di, triterpenoid.

Công dụng: Cam toại là thuốc xổ tẩy mạnh.

Cách dùng, liều lượng: Cam toại sống (Sinh cam toại) có tác dụng mạnh và độc tính mạnh (liều mỗi ngày 0,3-1g). Cam toại nướng, xào với dấm làm chậm tác dụng xổ tẩy và giảm độc tính (liều mỗi ngày 1,5-3g). Dùng dạng bột hay dạng viên.

Chú ư: Dược liệu độc, không dùng cho phụ nữ có thai, không dùng chung với Cam thảo. 

 

 CANHKINA

Cortex Cinchonae

Nguồn gốc: Vỏ thân, vỏ cành, vỏ rễ phơi, sấy khô của nhiều loài Canhkina như: Canhkina đỏ (Cinchona succirubra Pavon), Canhkina vàng (C. calisaya Weddell), Canhkina xám (C. officinalis L.), họ Cà phê (Rubiaceae). Cây được trồng ở một số vùng ở nước ta (Ba V́, Lâm Đồng).

Thành phần hoá học chính: Các alcaloid (quinin, quinidin, cinchonin, cinchonidin...), glycosid đắng, nhựa...

Công dụng: Chiết quinin và các alcaloid khác làm thuốc điều trị sốt rét. Vỏ cây làm thuốc hạ sốt, thuốc bổ kích thích tiêu hóa, điều trị các vết thương, vết loét.

Cách dùng, liều lượng: Uống dạng bột, cồn, siro, rượu bổ. Dạng bột: 4-12g mỗi ngày. Cồn: 2-15g/ngày. Siro: 20-100ml/ngày. Quinin chữa sốt rét 0,5g/lần, 1-1,5g/ngày.

 

CÁNH KIẾN ĐỎ

Lacca

Nguồn gốc: Vị thuốc là sản phẩm do Sâu cánh kiến (Laccifer lacca Kerr.), họ Sâu cánh kiến (Lacciferidae) tạo ra. Sâu cánh kiến có ở nước ta và nước ta có trên 200 loài cây chủ, trên đó Sâu cánh kiến có thể sinh sống và tạo Cánh kiến đỏ.

Thành phần hoá học chính: Chất mầu (các dẫn chất anthraquinon), chất nhựa (hỗn hợp polyester giữa acid béo có nhóm OH và các acid nhóm serquiterpen).

Công dụng, cách dùng:

Thuốc hạ sốt: Ngày dùng 4-6g; Cồn gômlac 5% chấm răng để pḥng sâu răng, làm hương liệu, bao viên thuốc chống ẩm. Làm chất mầu, chất tạo màng (vecni, chất cách điện, keo dán).

 

CÁNH KIẾN TRẮNG

Benzoinum

Tên khác: An tức hương.

Nguồn gốc: Nhựa thơm để khô lấy từ cây Bồ đề (Styrax tonkinensis  Pierre), họ Bồ đề (Styracaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở một số vùng rừng núi, trung du nước ta để lấy gỗ làm que diêm, làm giấy và lấy nhựa.

Thành phần hoá học chính: Acid thơm (acid benzoic 36%, acid cinamic 3%), vanilin.

Công dụng: Chữa ho, viêm phế quản mạn tính, hen suyễn. làm mau lành vết thương, chữa nẻ vú... Dùng trong ngành hương liệu, mỹ phẩm và công nghiệp thực phẩm.

Cách dùng, liều lượng: Mài cánh kiến trắng với mật ong hoặc pha thành siro 0,5-2g mỗi ngày. Đốt nhựa, xông khói vào mũi làm long đờm, dễ thở. Dung dịch 20% trong cồn làm thuốc bôi chữa nẻ vú. Ngâm cánh kiến trắng trong rượu, ngậm chữa viêm quanh răng.

 

CẢO BẢN

Rhizoma Ligustici

Tên khác: Ligusticum root (Gaoben).

Nguồn gốc: Thân rễ của cây Bắc cảo bản (Ligusticum jeholense Nak. et Kitaga), hay loài Tây khung cảo bản (Ligusticum sinense Oliv.), họ Cần (Apiaceae). Vị thuốc được nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu.

Công dụng, cách dùng, liều lượng: Giải cảm, giảm đau. Chữa nhức đầu, đau ở đỉnh đầu, đau nửa đầu, do cảm lạnh. Ngày 2-10g thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Thân rễ loài Northosmyrnium japonicum Miq. cũng được dùng với tên Cảo bản.  

 

CÁT CÁNH

Radix Platycodi

Nguồn gốc: Dược liệu là rễ đă cạo vỏ ngoài phơi hoặc sấy khô của cây Cát cánh (Platycodon grandiflorum (Jacq.) A. DC.), họ Hoa chuông (Campanulaceae). Cây ưa khí hậu vùng ôn đới, một số vùng cao nước ta có thể trồng được. Dược liệu phải nhập hoàn toàn từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Saponin triterpenoid (các platicodin), tanin, phytosterol.

Công dụng: Làm thuốc long đờm, chữa ho, ho có đờm hôi tanh, ho ra máu, chữa viêm họng, khản tiếng, tức ngực, khó thở. Cát cánh có trong thành phần của thuốc mỡ dùng ngoài để điều trị một số bệnh ngoài da.

Cách dùng, liều lượng: Mỗi ngày 4-16g, dạng thuốc sắc, hoàn tán, siro, dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

 

CÁT CĂN

Radix Puerarie

Tên khác: Sắn dây.

Nguồn gốc: Vị thuốc là rễ củ cạo vỏ phơi khô của cây Sắn dây (Pueraria thomsoni Benth.) = Pueraria lobata (Wild.) Ohwi), họ Đậu (Fabaceae). Cây được trồng ở nhiều nơi làm thực phẩm và làm thuốc.

Thành phần hóa học chính: Tinh bột 12-15% (rễ tươi), flavonoid (puerarin, daizin. daizein).

Công dụng: Chữa sốt, cảm nóng, khát nước, ban sởi mới phát, giải nhiệt. Chế tinh bột làm thực phẩm, làm thuốc.

Cách dùng, liều lượng: 8-12g mỗi ngày, dạng thuốc sắc. Có thể chế bột (tinh bột) pha nước uống.

Chú ư: Hoa Sắn dây có chứa saponin triterpenic được dùng để giải độc khi ngộ độc rượu.

 

 CÂU ĐẰNG

Ramulus Uncariae cumunsis

Nguồn gốc: Dược liệu là những đoạn cành có gai h́nh móc câu đă phơi khô của một số loài Câu đằng (Uncaria sp.), họ Cà phê (Rubiaceae). Cây Câu đằng mọc hoang tại nhiều vùng rừng núi nước ta. Hiện nay trên thị trường có cả Câu đằng thu hái trong nước và nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hóa học: Các alcaloid (rhynchophylin, isorhynchophylin)

Công dụng: Trấn kinh, chữa chóng mặt, hoa mắt, nhức đầu, cao huyết áp, trẻ em kinh giản (co giật), động kinh...

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-15g, dạng thuốc sắc.

Ghi chú: Vị Câu đằng của Trung Quốc được lấy từ cây Uncaria rhynchophylla (Miq) Jacks., vị này kích thước nhỏ hơn Câu đằng Việt Nam, nhiều móc câu, đều đặn, mầu đỏ tía.

 

CÂU KỶ TỬ

Fructus Lycii

Nguồn gốc: Quả chín phơi khô của cây Câu kỷ tử hay Khủ khởi (Lycium sinense Mill.), họ Cà (Solanaceae). Cây này có trồng ở nước ta, vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Caroten, vitamin C, acid amin.

Công dụng: Thuốc bổ, chữa đau lưng mỏi gối, di tinh, mắt ra nhiều nước, mắt mờ, tiểu đường. Những nghiên cứu gần đây cho thấy Câu kỷ tử có tác dụng tăng cường miễn dịch, hạ cholesterol huyết, làm chậm sự lăo hoá.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-10g, dạng thuốc sắc hay ngâm rượu.

Chú ư: Vỏ rễ cây Khủ khởi (Cortex Lycii sinensis) được gọi là Địa cốt b́ được dùng chữa sốt, ho khan, ho ra máu, đi tiểu ra máu (xem 152. Địa cốt b́). 

 

CẨU TÍCH

Rhizoma Cibotii

Nguồn gốc: Thân rễ đă cạo sạch lông, phơi hay sấy khô của cây Lông culi (Cibotium barometz J. Sm. = Dicksonia barometz L.), họ Kim mao (Dicksoniaceae). Cây mọc hoang ở nhiều vùng rừng núi nước ta.

Thành phần hóa học: Tinh bột, tanin, sterol, acid hữu cơ.

Công dụng: Chữa viêm đa khớp, đau khớp, đau lưng, phong thấp, tay chân nhức mỏi. Làm thuốc bổ thận, chữa đau dây thần kinh do thái hóa cột sống, người già thận yếu đi tiểu nhiều.

Cách dùng, liều lượng: 10-18g mỗi ngày, dạng thuốc sắc, ngâm rượu. Thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

 

CÂY BỌ MẮM

Tên khác: Cây thuốc gịi.

Tên khoa học: Pouzolzia  zeylanica (L.) Benn. = Pouzolzia indica Gaud., họ Gai (Urticaceae). Cây mọc hoang khắp nơi ở đồng bằng, trung du và miền núi nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây bỏ gốc rễ (Herba Pouzolziae zeylanicae).

Công dụng: Chữa ho lâu ngày, viêm họng, tiểu tiện bí. Chữa tắc tia sữa, đinh nhọt, viêm da có mủ. Dùng cây tươi giă đắp lên vết thương có mủ. Nhân dân thường dùng lá bọ mắm tươi giă nhỏ cho vào vại mắm để bảo quản chống gịi bọ. Lá non và ngọn ăn sống thay rau.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 20-40g cây tươi hoặc 10-20g cây khô dưới dạng thuốc sắc hoặc nấu cao lỏng pha với mật ong, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Dùng ngoài không kể liều lượng.

 

CÂY BỌ MẨY

Tên khác:   Đại thanh.

Tên khoa học: Clerodendrum cyrtophyllum Turcz, họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae). Cây mọc hoang ở nhiều địa phương trong nước ta.

Bộ phận dùng: lá (Folium Clerodendri - có nơi gọi là Đại thanh diệp), rễ tươi hoặc khô (Radix Clerodendri); Vỏ rễ c̣n được dùng dưới tên Địa cốt b́ nam.

Thành phần hoá học: Alcaloid.

Công dụng: Chữa viêm họng, chảy máu chân răng, chữa lỵ và viêm đại tràng măn tính. Dùng uống sau khi đẻ để thông huyết, ăn ngon cơm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

CÂY BƯỚM BẠC

Tên khác: Bươm bướm, Hoa bướm.

Tên khoa học:: Mussaenda pubescens Ait.f., họ Cà phê (Rubiaceae). Cây mọc hoang ở các vùng đồi núi nước ta.

Bộ phận dùng: Hoa, rễ, cành lá.

Thành phần hóa học chính: Acid amin, acid hữu cơ (Arjunolic).

Công dụng: Lợi tiểu, chữa ho, hen, gẫy xương, chữa tê thấp.

Cách dùng, liều lượng: Hoa làm thuốc lợi tiểu, chữa ho, hen, ngày 6-12g dạng thuốc sắc. Dùng ngoài không kể liều lượng giă nát đắp lên nơi viêm tấy, gẫy xương.

Rễ làm thuốc giảm đau, chữa tê thấp, ngày dùng 10-20g dưới dạng thuốc sắc, cành, thân lá cũng dùng với công dụng như rễ, mỗi ngày 6-12g.

 

CÂY CHÈ

Tên khác: Trà, Trà diệp, Chè hương, Chè tàu.

Tên khoa học: Camellia sinensis O. Ktze = Thea chinensis Seem., họ Chè (Theaceae). Cây thường được trồng lấy lá tươi sắc nước uống hoặc chế biến theo những quy tŕnh nhất định thành trà để pha nước uống.

Bộ phận dùng: Cành, lá.

Thành phần hoá học chính: Tanin, acid hữu cơ, saponin triterpen, alcaloid, tinh dầu...

Công dụng: Chữa tâm thần mệt mỏi, ngủ nhiều, chữa đau đầu, tiểu tiện bí, ngộ độc rượu, chữa lỵ, chữa phù thũng. Nước chè đặc dùng ngoài rửa vết thương, vết bỏng làm se da và chóng lên da non.

Cách dùng, liều lượng: Pha nước đặc để uống ngày 50-100g chè tươi hoặc dùng ngoài không kể liều lượng.

 

 CÂY CHÓ ĐẺ RĂNG CƯA

Tên khác: Diệp hạ châu.

Tên khoa học: Phyllanthus urinaria L., họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Cây mọc hoang khắp nơi ở nước ta.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Phyllanthi).

Thành phần hoá học chính: Chất đắng.

Công dụng, cách dùng: Lợi tiểu, chữa phù thũng. Chữa đinh râu, mụn nhọt (giă nát với muối để đắp). Chữa viêm gan virut B. Ngày uống 20-40g cây tươi, có thể sao khô, sắc đặc để uống. Dùng ngoài không kể liều lượng.

Chú ư: Cây chó đẻ thân xanh (Diệp hạ châu đắng - Phyllanthus amarus Schum et Thonn.) cũng được dùng với cùng công dụng. Chế phẩm Hepaphil lọ 100 viên nang XNDPTƯ 25 chữa viêm gan virut B.

 

  

 CÂY CHỔI XỂ

Tên khác: Chổi sể, Chổi xuể, Thanh cao, Cây chổi trện.

Tên khoa học: Baeckea frutescens L., họ Sim (Myrtaceae). Cây mọc hoang ở nhiều vùng đồi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Lá, phần trên mặt đất.

Thành phần hóa học: Tinh dầu, thành phần chủ yếu là pinen, cineol, limonen.

Công dụng: Chữa phong thấp, đau nhức xương, đau bụng cảm cúm, ăn không tiêu, dùng cho phụ nữ xông, uống sau khi đẻ, dùng để cất tinh dầu.

Cách dùng, liều lượng: Sắc lá và hoa làm nước uống (6-8g). Đốt cây khô để xông khói, dùng tinh dầu xoa bóp, làm dầu xoa, cao xoa.

 

CÂY CHUỖI TIỀN

Tên khác: Cây đồng tiền, Bài tiền thảo, Tràng quả đẹp.

Tên khoa học: Desmodium pulchellum Benth syn. Phyllodium pulchellum Desv., họ Đậu (Papilionaceae). Cây mọc hoang phổ biến ở nhiều địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Rễ và lá (Radix et Folium Phyllodii), thu hái quanh năm rửa sạch, dùng tươi hay thái lát phơi khô dùng dần.

Thành phần hoá học chính: Các alcaloid, hợp chất indol.

Công dụng: Lá và rễ cây Chuỗi tiền có vị nhạt, se, hơi độc, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, tiêu sưng, hoạt huyết, tán ứ và tiêu bọc máu. Được dùng chữa cảm mạo phát sốt, viêm gan cấp và mạn tính, xơ gan. Chữa thấp khớp đau xương, đ̣n ngă tổn thương.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-20g lá, 15-30g rễ, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

Lưu ư: - Phụ nữ có thai không được dùng cây Chuỗi tiền.

 

 

CÂY CỐI XAY

Tên khác: Nhĩ hương thảo, Kim hoa thảo.

Tên khoa học: Abutilon indicum (L.) Sweet, họ Bông (Malvaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất phơi sấy khô (Herba Abutili indici), rễ, hạt.

Thành phần hóa học: Chất nhầy, acid hữu cơ.

Công dụng: Lá, rễ thông tiểu tiện, chữa tiểu buốt, nước tiểu vàng, chữa viêm khớp. Hạt chữa xích bạch lỵ, mụn nhọt. Rễ chữa sốt, nhức đầu, bạch đới.

Cách dùng, liều lượng: Lá sắc uống hoặc giă nát đắp mụn nhọt. Lá Cối xay, Ích mẫu mỗi thứ 8-20g sắc nước uống chữa phù thũng sau khi đẻ. Quả cối xay, hoa Mào gà đỏ mỗi vị 30g (tươi) sắc nước uống chữa kiết lỵ. Hạt cối xay ngày dùng 2-4g phối hợp với các vị thuốc khác chữa mắt có màng mộng.

 

 

CÂY CƠM CHÁY

Tên khoa học: Sambucus javanica Reinw., họ Cơm cháy (Caprifoliaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Cành lá (Herba Sambuci), hoa, quả, rễ (Radix Sambuci).

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, alcaloid, tanin.

Công dụng: Cành, lá tắm cho phụ nữ mới sinh. Quả, hoa, vỏ làm thuốc lợi tiểu, ra mồ hôi, nhuận tràng, chữa thấp khớp.

Cách dùng, liều lượng: Hoa hăm uống hoặc xông làm thuốc lợi tiểu, ra mồ hôi. Toàn cây sắc uống chữa viêm thận, phù thũng. Rễ sắc nước uống chữa viêm thận, phù thũng, quả ngâm rượu uống chữa thấp khớp.

Ngày dùng 10-12g hoa, quả, rễ hoặc vỏ thân dưới dạng thuốc sắc, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

 

CÂY CỨT LỢN

Tên khác: Cây ngũ sắc, Cỏ hôi.

Tên khoa học: Ageratum  conyzoides L., họ Cúc (Asteraceae). Cây mọc hoang khắp nơi.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Agerati).

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, alcaloid, saponin.

Công dụng, liều dùng: Chữa viêm xoang mũi dị ứng: cây tươi rửa sạch, giă nát, vắt lấy nước tẩm vào bông, dùng bông nhét vào lỗ mũi. Chữa bệnh phụ nữ (bị rong huyết sau khi sinh nở): 30-50g cây tươi, rửa sạch, giă nát, vắt lấy nước uống trong ngày. Phối hợp với nước bồ kết để gội đầu.

Chú ư: Tránh nhầm với cây Ngũ sắc (Lantana camara L.) và cây Cỏ lào (Eupatorium odoratum L. - cũng được gọi là cây Cứt lợn, Cỏ hôi).

 

 

CÂY ĐẠI

Tên khác: Cây sứ, Bông sứ.         

Tên khoa học: Plumeria rubra L. var. acutifolia (Poir.) Bailey, họ Trúc đào (Apocynaceae). Cây mọc hoang và trồng bằng cành ở các đ́nh chùa, các vườn hoa.

Bộ phận dùng: Vỏ thân, hoa (Cortex et Flos Plumeriae), lá tươi, nhựa tươi.

Thành phần hoá học: Các chất thuộc nhóm iridoid, alcaloid, trong hoa có tinh dầu.

Công dụng: Vỏ thân cây Đại cạo bỏ lớp bần, thái mỏng, sao thơm, sắc 3-6g uống để nhuận tràng, 8-16g xổ ra giun và chữa thuỷ thũng. Hoa Đại trị sốt, chữa ho, tiêu đờm. Lá giă nát nấu thành cao, đắp chữa sầy da, chảy máu. Nhựa lấy từ vỏ thân bôi chữa các vết ghẻ lở, chỗ viêm tấy.

Chú ư: Người đang bị tiêu chảy, có thai không được dùng.

 

 CÂY GAI DẦU

Tên khác: Gai mèo, Bồ đà, Cần sa.

Tên khoa học: Cannabis sativa L. họ Gai mèo (Cannabinaceae). Dân tộc H’mông trồng lấy sợi để dệt vải.

Bộ phân dùng: Hạt (Hoả ma nhân).

Thành phần hoá học chính: Hạt chứa nhiều dầu béo. Hoa và lá cây Gai dầu có chất độc gây nghiện tetrahydrocannabinol và các chất cùng nhóm.

Công dụng: Hạt làm thuốc nhuận tràng, lợi niệu, tiêu phù thũng, dùng trong trường hợp tiểu tiện bí, tiểu buốt, tiểu rắt.

Cách dùng, liều dùng: 12-20g hạt nghiền nhỏ, lọc vắt lấy nước, nấu thành cháo, thêm hành, hạt tiêu và muối, ăn khi đói.

Ghi chú: Có hai loài Gai dầu, Gai dầu Trung Quốc Cannabis sativa L. var. chinensis được trồng để lấy sợi dệt vải và hạt làm thuốc, loài này có hàm lượng chất gây nghiện trong hoa và hạt thấp. Gai dầu Ấn độ - Cannabis sativa L. var. indica có hàm lượng chất gây nghiện cao, cấm trồng ở nhiều nước.

 

CÂY GẠO

Tên khác: Mộc miên.

Tên khoa học: Bombax malabaricum DC. = Gossampinus malabarica (DC.) Merr. = Bombax heptaphylla Cav., họ Gạo (Bombacaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Vỏ cây (Cortex Bombax), hoa (Flos Bombax).

Thành phần hoá học chính: Chất nhầy.

Công dụng: Dùng bó chữa găy xương, làm thuốc cầm máu, thông tiểu, chữa tiêu chảy, kiết lỵ.

Cách dùng, liều lượng: Vỏ tươi giă nát bó vào nơi găy, vỏ khô sắc uống ngày 15-20g làm thuốc cầm máu, thông tiểu. Hoa sao vàng, sắc uống ngày 20-30g chữa tiêu chảy, kiết lỵ.

 

CÂY HÀM ẾCH

Tên khác: Trầu nước, Tam bạch thảo.

Tên khoa học: Saururus chinensis (Lour.) Baill., thuộc họ Lá giấp (Saururaceae). Cây mọc dại ở ruộng, nơi ẩm ướt và ven suối.

Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Saururi chinensis).

Thành phần hoá học chính: Trong cây có dầu, methyl-n-nonylketon, các flavonoid (quercetin, rutin).

Công dụng: Thuốc thanh nhiệt, tiêu thũng, giải độc. Chữa viêm gan cổ trướng, sỏi bàng quang, viêm đường tiết niệu, viêm thận cấp phù thũng, bạch đới, sởi. Chữa mụn nhọt, viêm da có mủ.

Cách dùng, liều lượng: Dùng 15-30g, dạng thuốc sắc. Giă cây tươi đắp tại chỗ chữa mụn nhọt và viêm mủ da, eczema, rắn cắn.

 

 CÂY LÁ NGÓN

Tên khoa học: Gelsemium elegans Benth.,Gelsemium elegans Benth., họ Mă tiền (Loganiaceae). Cây mọc hoang ở một số vùng đồi, núi nước ta.

Bộ phân dùng: lá, rễ.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid (gelsemin, gelmicin).

Công dụng: Chữa mụn nhọt độc, chữa vết thương do ngă hay bị đánh đ̣n.

Cách dùng, liều lượng: Giă nhỏ đắp ngoài hoặc sắc lấy nước rửa chỗ đau.

Ghi chú: Cây Lá ngón là nguyên nhân của rất nhiều vụ ngộ độc ở các vùng rừng, núi. Alcaloid của Cây lá ngón có độc tính rất mạnh, dễ gây ngộ độc chết người. Các triệu chứng ngộ độc Lá ngón: nôn mửa, hôn mê, giăn đồng tử, ngạt hô hấp, các cơ bị mềm nhũn, đau bụng dữ dội, chảy máu dạ dày, ruột. Khi ngộ độc phải rửa dạ dày, chuyển đến bệnh viện cấp cứu.

 


CÂY KHÔI

Tên khác: Cây độc lực, Đơn tướng quân, Cây lá khôi, Khôi nhung, Khôi tía.

Tên khoa học: Ardisia sylvestris Pitard., họ Đơn nem (Myrsinaceae). Cây mọc hoang ở những khu rừng rậm miền thượng du như Thanh hoá, Nghệ an, Ninh b́nh...

Bộ phận dùng: Lá.

Thành phần hoá học chính: Tanin, glycosid.

Công dụng: Chữa đau dạ dày, chữa lở ngứa, mụn nhọt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 40-80g sắc uống phối hợp với các vị thuốc khác chữa đau dạ dày, chữa kiết lỵ ra máu. Rễ thái nhỏ, phơi khô ngâm rượu uống, làm thuốc bổ. Nấu nước tắm cho trẻ pḥng, trị lở ngứa. Lá khôi giă nát đắp chữa mụn nhọt.

 

CÂY MÁU CHÓ

Tên khác: Cây máu chó lá nhỏ.

Tên khoa học: Knema corticosa Lour, syn. Myristica globularia Lam., họ Máu chó (Myristicaceae). Cây mọc hoang ở rừng thứ sinh, vùng núi thấp và vừa ở Hà Bắc (cũ), Thanh Hoá, Nghệ An, Biên Hoà…

Bộ phận dùng: Hạt (Semen Knemae), thu vào mùa hạ, khi quả chín, đem phơi khô.

Thành phần hoá học chính: Dầu béo.

Công dụng: Dùng chế thuốc chữa ghẻ.

Cách dùng, liều lượng: Rửa sạch và xát mạnh vào các nốt ghẻ cho bong vảy, rồi bôi thuốc từ hạt Máu chó. Ngày làm hai lần, bôi lớp thật mỏng. Nếu dùng dầu nguyên ép từ hạt phải pha loăng.

Lưu ư: Cây Máu Chó lá to (Horsfieldia amygdalina (Wall.) Warb) cùng họ, hạt cũng được dùng với công dụng tương tự.

 

 

 CÂY MỎ QUẠ

Tên khác: Hoàng lồ, Vàng lồ, Xuyên phá thạch.

Tên khoa học: Maclura cochinchinensis (Lour.) Corner = Cudrania javanensis Trec., họ Dâu tằm (Moraceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Lá, rễ (Radix Cudraniae).

Thành phần hoá học chính: Flavonoid.

Công dụng: Lá Mỏ quạ chữa vết thương phần mềm, chữa viêm loét cổ tử cung. Rễ Mỏ quạ chữa phù thũng, chữa ho ra máu, khạc ra đờm lẫn máu.

Cách dùng, liều lượng: Lá tươi rửa sạch, giă nhỏ đắp vào vết thương, băng lại, mỗi ngày rửa và thay băng một lần. Rễ làm thuốc khứ phong, hoạt huyết, phá ứ, chữa ứ tích lâu năm, phụ nữ bế kinh, ngày dùng 10-30g rễ dưới dạng thuốc sắc.

 

 

CÂY MÙI

Tên khác: Hồ tuy, Nguyên tuy.

Tên khoa học: Coriandrum sativum L., họ Cần (Apiaceae). Cây được trồng khắp nơi làm rau, gia vị và làm thuốc.

Bộ phận dùng: Quả (Fructus Coriandri sativi), Toàn cây (Herba Coriandri sativi).

Thành phần hoá học chính: Quả mùi chứa tinh dầu (0,3-0,8%), thành phần chính của tinh dầu là linalol (hơn 60%). Trong quả c̣n có dầu béo, protein. Các bộ phận khác của cây cũng chứa tinh dầu.

Công dụng: Thúc đậu sởi mọc, chữa thiếu sữa, chữa đau dạ dày, ăn không tiêu.

Cách dùng, liều lượng: Lấy khoảng 50g quả giă nát, hoà vào một ít nước, vẩy lên người để chữa sởi không mọc. Sắc nước cùng với các vị thuốc khác để uống.

 

 CÂY NGỌT NGHẸO

Tên khác: Ngọt nghẽo, Vinh quang rực rỡ.

Tên khoa học: Gloriosa superba L. = Gloriosa symplex Don., họ Hành (Liliaceae). Cây có hoa đẹp, mọc hoang tại nhiều nơi ở miền Nam nước ta.

Bộ phận dùng: Rễ củ (Rhizoma Gloriosae), lá.

Thành phần hoá học chính: Colchicin (0,3%) và các alcaloid khác...

Công dụng, cách dùng: Rễ củ tán, chế thành bột nhăo đắp vào vùng rốn hoặc hai ḷng bàn tay, bàn chân để thúc đẻ hoặc gây sẩy thai, làm cho rau thai chóng ra, c̣n dùng để chữa lậu. Có thể dùng làm nguồn nguyên liệu chiết Colchicin.

Chú ư: Rễ củ Ngọt nghẹo rất độc cần cẩn thận khi dùng.

 

 

 CÂY NHÀU

Tên khác: Cây ngao, Nhầu núi, Cây giầu.

Tên khoa học: Morinda citrifolia L., họ Cà phê (Rubiaceae). Cây được trồng ở nhiều địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Quả, rễ, lá.

Thành phần hoá học chính: Anthranoid.

Công dụng, cách dùng: Rễ chữa cao huyết áp. Ngày dùng 30-40g sắc uống thay nước chè. Quả ăn với muối nhuận tràng, làm thuốc điều kinh, nướng chín ăn chữa lỵ. Lá Nhàu giă nát đắp chữa mụn nhọt, làm chóng lên da, sắc uống chữa lỵ, đi ngoài, chữa sốt và làm thuốc bổ.

Chú ư: Một số cây chi Morinda cũng được gọi là cây Nhàu. Trong số này có cây Morinda trimera L. cũng được gọi là Nhàu núi, than, rễ được dùng làm thuốc chữa cao huyết áp.

Nước ta đă sản xuất được một số chế phẩm từ quả Nhàu dưới các dạng bào chế khác nhau.

 

CÂY QUẢ NỔ

Tên khác: Sâm tanh tách,Thăng ma nam.

Tên khoa học: Ruellia tuberosa L., họ Ô rô (Acanthaceae). Cây mọc hoang và trồng làm cảnh ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Ruelliae tuberosae), rễ phơi hay sấy khô.

Thành phần hoá học chính: Chất đắng, alcaloid.

Công dụng: Thuốc bổ mát, chữa nhức đầu, cảm nóng, cảm lạnh, đau họng, mụn lở trong miệng, chữa bệnh về thận, sỏi bàng quang. Dùng chữa viêm gan B, người mệt mỏi, kém ăn, mất ngủ, sắc mặt tái nhợt, giảm cân, vàng da, tiểu buốt, đại tiện bí kết, chữa quai bị.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 20-30g thân cây hoặc 10-20g rễ, dùng dạng thuốc sắc.

Chú ư: Rễ cây Quả nổ được các lương y sử dụng dưới tên Thăng ma nam, dùng để thay thế vị thuốc Thăng ma trong các bài thuốc.

 

 CÂY RÂU MÈO

Tên khác:   Cây bông bạc.

Tên khoa học: Orthosiphon stamineus Benth. = Orthosiphon aristatus (Blume) Miq., họ Bạc hà (Lamiaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nước ta.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Orthosiphonis).

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, saponin, coumarin, tinh dầu, chất béo, tanin...

Công dụng: Thuốc lợi tiểu mạnh, thông mật, dùng trong bệnh sỏi thận, sỏi túi mật, viêm túi mật.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 5-6g bột dược liệu pha với nửa lít nước nóng, chia làm 2 lần, uống trước bữa ăn 15-30 phút. Thường uống 8 ngày lại nghỉ 2-4 ngày.

 

CÂY SẦM

Tên khác: Sầm núi, Sầm ngọt.

Tên khoa học: Memecylon edule Roxb. syn. M. umbellatum Burm., họ Mua (Melastomataceae). Cây thường gặp trên đất hơi ẩm vùng rừng núi đồng bằng nước ta.

Bộ phận dùng: Vỏ thân, lá (Cortex et Folium Memecyli Edulis). Thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi khô dùng dần.

Thành phần hoá học chính: Chất nhựa, acid hữu cơ.

Công dụng: Lá có vị chát, và đắng, có tác dụng làm săn, tiêu độc. Lá sắc uống trị bệnh lậu và bệnh bạch đới, chữa rắn cắn. Lá c̣n dùng chế thuốc rửa mắt để chữa viêm kết mạc. Vỏ cây dùng sắc nước uống trị rối loạn kinh nguyệt, chữa sốt, sốt rét. Lá non dùng đắp trĩ, nước sắc lá, hoa và quả dùng ngoài trị bệnh nấm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g vỏ dạng thuốc sắc, dùng ngoài không kể liều lượng, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

CÂY SẢNG

Tên khác: Quả thang, Sang sé, Sảng, Sảng lá kiếm, Trôm mề gà, Trôm thon, Trôm lá mác.

Tên khoa học: Sterculia lanceolata Cav., thuộc họ Trôm (Sterculiaceae). Cây mọc phổ biến trong các rừng thứ sinh từ Hoà B́nh, Quảng Ninh tới Ninh Thuận.

Bộ phận dùng: Vỏ cây, lá, hạt, rễ (Cortex, Folium et Semen Sterculiae Lanceolatae). Thu hái quanh năm, lá thu hoạch mùa Hè và mùa Thu, dùng tươi hay phơi khô dùng dần.

Thành phần hoá học chính: Carbohydrat, tanin.

Công dụng: Lá vị cay, ấm, có tác dụng tán ừ giảm đau, vỏ được dùng chữa sưng tấy, mụn nhọt, trị bạch đới nhiều, lâm trọc, lá dùng trị đ̣n ngă tổn thương. Hạt ăn được, thường được dùng làm thuốc thanh phế nhiệt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 20-30g dạng thuốc sắc, dùng ngoài, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

 

 

 CÂY SỮA

Cortex Alstoniae

Tên khác: Vỏ sữa, Mùi cua, Ṃ cua.

Nguồn gốc: Vỏ thân đă cạo bỏ lớp bần phơi hay sấy khô của cây Sữa (Alstonia scholaris (L.) R. Br.), họ Trúc đào (Apocynaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid.

Công dụng: Làm thuốc bổ máu, chữa đau răng, chữa hen suyễn, viêm phế quản măn tính, chữa sốt, điều kinh, chữa lỵ, tiêu chảy, chữa lở ngứa, rôm sẩy.

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 1-3g bột vỏ phơi khô dạng thuốc sắc, cao lỏng hoặc rượu thuốc.

Chú ư: Vỏ sữa kết hợp với một số vị thuốc khác chế thành rượu thuốc Ditakina dùng cho người bị thiếu máu, hay mỏi mệt, người mới ốm dậy kém ăn, phụ nữ sau khi đẻ.

 

 CÂY THUỐC BỎNG

Tên khác: Cây sống đời, Diệp sinh căn.

Tên khoa học: Kalanchoe pinata (Lam.) Pers., họ Thuốc bỏng (Crassulaceae). Cây mọc hoang, được trồng nhiều nơi.

Bộ phận dùng: Lá.

Thành phần hoá học chính: Acid hữu cơ, flavonoid và một số hợp chất phenolic khác.

Công dụng, cách dùng: Làm thuốc chữa bỏng, chữa mẩn ngứa, chữa lỵ, chữa trĩ. Dùng lá giă nát đắp lên chỗ bị thương để cầm máu, làm vết thương chóng lành. Lá ṿ nát đắp lên trán chữa nhức đầu. Lá c̣n dùng làm thuốc đắp nóng chữa sai khớp, chai chân tay.

Chú ư: Có thời gian người ta dùng lá cây này như là một loại thuốc chữa bách bệnh.

 

 CÂY TRÁM TRẮNG

Tên khác: Cảm lăm, Thanh quả.

Tên khoa học: Canarium album (Lour.) Raeusch = Pimela alba Lour., họ Trám (Burseraceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Quả (Fructus Canarii) nhựa.

Thành phần hoá học: Quả chứa protein, chất béo, carbohydrat...Nhựa Trám có 18-30% tinh dầu, thành phần chủ yếu của tinh dầu là sabinen, terpinen...

Công dụng: Quả Trám trắng chữa đau họng sưng amidan, ho nhiều đờm, lỵ, tiêu chảy. Quả tươi c̣n xanh giải độc rượu, chữa ngộ độc do cá độc. Quả chín có tác dụng an thần, chữa động kinh. Nhựa Trám dùng cất tinh dầu, làm chất thơm và chất định hương cao cấp.

 

CÂY TRÂU CỔ 

Tên khác: Xộp, Vẩy ốc.

Tên khoa học: Ficus pumila L. = Ficus stipulata Thunb., họ Dâu tằm (Moraceae). Cây mọc hoang nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Quả (Fructus Fici pumilae), lá, cành (Caulis Fici pumilae), nhựa mủ.

Thành phần hoá học: Quả có gôm, lá có alcaloid.

Công dụng, liều dùng: Quả là vị thuốc bổ chữa di tinh, liệt dương, đau lưng, lỵ lâu ngày, thông tia sữa; ngày uống 3-6g có thể tới 20g dạng thuốc sắc, cao. Cành và lá chữa mụn nhọt, thông tiểu, tiêu độc, lợi sữa; ngày 8-16g dạng thuốc sắc, cao.

Chú ư: Quả Trâu cổ bổ dọc phơi khô c̣n gọi là Quảng vương bất lưu hành (ở vùng Quảng Đông Trung Quốc). Tránh nhầm với vị thuốc Vương bất lưu hành là hạt của cây Vaccaria segetalis (Neck) Garcke (Semen Vaccariae).

 

 CÂY VỌT

Tên khác: Tiểu lư bạch, Guột, Guột lưỡng phân.

Tên khoa học: Dicranopteris dichotoma (Thunb.) Bernh., họ Rau sam (Gleicheniaceae). Cây mọc hoang ở các vùng đồi.

Bộ phận dùng: Toàn cây hoặc thân rễ.

Thành phần hoá học chính: Chưa thấy tài liệu nghiên cứu.

Công dụng: Tán ứ, chỉ huyết, chữa tiểu buốt, tiểu ra máu.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 30-50g dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Một số địa phương gọi thân rễ Cốt toái bổ là củ Guột. Chú ư tránh nhầm lẫn.

 

CÂY VÚ B̉

Tên khác: Cây vú chó

Tên khoa học: Ficus heterophyllus L., họ Dâu tằm (Moraceae). Mọc hoang ở các vùng đồi núi nước ta.

Bộ phận dùng: Rễ, nhựa mủ, phần trên mặt đất.

Thành phần hoá học: Nhựa, flavonoid.

Công dụng: Thuốc bổ trong các trường hợp hư lao, tắc tia sữa, chữa phong thấp.

Cách dùng, liều lượng: Chữa phong thấp: Ngày dùng 15-20g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu. Mỗi lít rượu ngâm 100-200g rễ sao vàng, mỗi ngày uống 15- 20ml rượu này.

Chữa ngă bị ứ huyết, ngực bụng đau. Toàn cây Vú ḅ giă nát, thêm rượu và ít muối, sao nóng đắp lên chỗ sưng đau.

Chú ư: Rễ của nhiều loài Vú chó khác nhau Ficus hirta Vahl = Ficus simplicissima Lour. var. hirta (Vahl) Migo cũng được sử dụng làm thuốc không phân biệt.

Rễ các loài Vú chó thường gọi là Hoàng kỳ nam dùng thay thế Hoàng kỳ để chữa ho, phong thấp.

 

 CÂY XẤU HỔ

Tên khác: Trinh nữ, Cây mắc cỡ, Cây thẹn, Hàm tu thảo.

Tên khoa học: Mimosa pudica L., họ Đậu (Fabaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta và nhiều nước khác.

Bộ phận dùng: Cành lá, rễ phơi sấy khô..

Thành phần hoá học chính: Alcaloid.

Công dụng: Cành, lá làm thuốc ngủ, an thần, chữa cao huyết áp, chữa viêm phế quản mạn tính. Rễ chữa thấp khớp, đau lưng, nhức xương.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g cành lá khô, sắc uống trước khi đi ngủ. Rễ cây thái mỏng, tẩm rượu sao vàng sắc uống ngày 100-120g.

Chú ư: Phụ nữ có thai không được dùng cây Xấu hổ.  

 

 CÂY XUÂN HOA

Tên khác: Cây Hoàn ngọc,

.

Tên khoa học: Pseuderanthemum palatiferum  (Nees) Radlk, họ Ô rô (Acanthaceae).

Bộ phận dùng: Lá.

Thành phần hoá học chính: Acid hữu cơ, flavonoid, sterol, saponin, đường khử...

Công dụng: Chữa rối loạn tiêu hoá, viêm loét dạ dày tá tràng, điều trị chấn thương, chảy máu.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 10-12g dùng riêng hay kết hợp với các dược liệu khác. Sử dụng dưới dạng nước sắc, ăn sống hay giă nát đắp lên các vết thương.

Chú ư: Có thời gian người ta dùng lá cây Xuân hoa như là một loại thuốc chữa bách bệnh.

 

 CHANH LEO

Tên khác: Dây chùm bao trứng, Lạc tiên trứng, Mắc mát.

Tên khoa học: Passiflora edulis Sims, thuộc họ Lạc tiên (Passifloraceae). Cây mọc hoang nhiều nơi, ở các vùng khí hậu mát, được trồng chế nước giải khát, làm đồ hộp.

Bộ phận dùng: Quả (Fructus Passiflorae Edulis), lá, ngọn non, dùng tươi hoặc nấu thành cao dùng dần.

Thành phần hoá học chính: Dịch quả chứa protein, vitamin, các acid hữu cơ, hạt chứa dầu béo.

Công dụng: Hoạt chất trong Dây mát giúp trấn tĩnh, an thần, chữa suy nhược thần kinh, căng thẳng (stress), suy nhược cơ thể, chống hồi hộp, mất ngủ, ngủ không sâu. Làm thuốc giải nhiệt, mát gan, chữa chứng nhức đầu, chữa chứng đau do co thắt đường tiêu hóa, phụ nữ hành kinh sớm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 50-100g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 Chuyển lên đầu trang

 

 CHÈ DÂY

Ramulus Ampelopsis

Tên khác: Chè hoàng giang, Song nho Quảng Đông.

Nguồn gốc: Lá, cành cây Chè dây (Ampelopsis cantoniensis (Hook. et Arn.) Planch. = Cissus cantoniensis Hook. et Arn.), họ Nho (Vitaceae).

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, tanin.

Công dụng: Chữa đau dạ dày, chữa tê thấp, đau nhức, chống viêm, chữa viêm gan vàng da. Pḥng bệnh sốt rét. Giải độc, làm nước giải khát.

Cách dùng, liều lượng: Ngày10-50g pha uống thay chè, dùng riêng hoặc kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Hiện nay trên thị trường có chế phẩm Ampelop được sản xuất từ Chè dây.

 

 CHÈ ĐẮNG

Tên khác: Khổ đinh trà, Cây bùi, chè Khôm, chè Vua.

Tên khoa học: Ilex kaushue S. Y. Hu = Ilex kudingcha C. J. Tseng, họ Nhựa ruồi (Aquifoliaceae). Cây mọc nhiều ở vùng núi thuộc các tỉnh Cao Bằng, Lào Cai, Hoà B́nh.

Bộ phận dùng: Lá, búp.

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, saponin...

Công dụng: Kích thích tiêu hoá, lợi tiểu, an thần, dùng lâu tăng sức khoẻ.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 10-20g, hăm uống như chè.

Chú ư: Gần đây Chè đắng đang được nghiên cứu đưa vào trồng trọt, sản xuất, chế biến với số lượng lớn phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

 

 

CHÈ VẰNG

Folium Jasmini subtriplinervis

Tên khác: Chè cước man, Dây vàng.

Tên khoa học: Jasminum subtriplinerve Blume.; Jasminum anastomosans Wall., họ Nhài (Oleaceae). Cây mọc hoang ở nhiều địa phương trong nước ta.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid, flavonoid, coumarin...

Công dụng, cách dùng: Làm thuốc nhuận gan, chữa vàng da. Lá phơi khô pha nước uống hàng ngày cho phụ nữ sau khi đẻ hoặc nấu nước tắm cho trẻ con bị ghẻ lở. Chữa rắn cắn. Lá giă nát hoặc giă với cồn 900 đắp vào nơi áp xe.

Chú ư: Có nhiều loài thuộc chi Jasminum được gọi là chè vằng. Cây Chè vằng có một số đặc điểm giống cây Lá ngón cần chú ư tránh nhầm lẫn khi thu hái.   

 

CHI TỬ

Fructus Gardeniae

Nguồn gốc: Quả đă phơi khô của cây Dành dành (Gardenia jasminoides Ellis. = Gardenia florida L.), họ Cà phê (Rubiaceae). Cây mọc hoang và được trồng làm cảnh.

Thành phần hóa học: Acid hữu cơ, tinh dầu. Các iridoid glycosid có phần genin là dẫn chất diterpen mầu vàng.

Công dụng: Chữa sốt phiền khát, hoàng đản, thổ huyết, chảy máu cam, đại tiện ra máu, hoả bốc nhức đầu, đỏ mắt, ù tai, tiểu tiện ít và khó, chữa đắp vết sưng đau. Nhuộm thực phẩm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 5-10g, dạng thuốc sắc dùng phối hợp với các vị thuốc khác. Chi tử đốt thành than, tán thành bột mịn, thổi vào mũi chữa chảy máu cam. Chi tử đốt thành than, hoà với ḷng trắng trứng gà bôi chữa bỏng nước.

 

 

 CHỈ THIÊN

Tên khác: Khổ địa đảm, Thiên giới thái, Thổ sài hồ, Thổ bồ công anh, Xuy hỏa căn, Rễ Thổi lửa, Thiết tảo trửu.

Tên khoa học: Elephantopus scarber L. họ Cúc (Asteraceae). Cây mọc hoang nhiều nơi ở nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây, thu hái quanh năm, dùng tươi hoặc phơi, sấy khô.

Công dụng: Chữa cảm sốt, ho, họng sưng đau, đau mắt đỏ, chảy máu mũi, tiêu chảy, vàng da, viêm thận phù thũng, lợi tiểu, tiêu thũng, chữa ung nhọt, rắn cắn.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 9-16g khô (hoặc 30-60g tươi) sắc lấy nước hoặc giă vắt lấy nước cốt uống. Dùng ngoài giă đắp hoặc nấu nước xông rửa.

 

CHỈ THỰC

Fructus Aurantii immaturus

Nguồn gốc: Quả non phơi hay sấy khô của cây Cam chua (Citrus auranticum L.), Cam ngọt (Citrus sinensis Osbesk.) và một số loài Citrus khác, họ Cam (Rutaceae). Dược liệu thu hái trong nước, đôi khi nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, flavonoid, pectin, saponin, alcaloid, acid hữu cơ.

Công dụng: Thuốc giúp tiêu hóa, chữa ngực sườn đau tức, bụng chướng khó tiêu, chữa sa dạ dày, sa trực tràng, sa dạ con. chữa ho, lợi tiểu, ra mồ hôi.

Cách dùng, liều lượng: 6-12g mỗi ngày, dạng thuốc sắc.

Chú ư: Phụ nữ có thai không nên dùng

 

 CHỈ XÁC

Fructus Citri aurantii

Tên khác: Thanh b́.

Nguồn gốc: Quả chưa chín, bổ đôi phơi khô của cây Cam chua (Citrus auranticum L.) và một số loài Citrus khác họ Cam (Rutaceae). Dược liệu chủ yếu thu hái trong nước, đôi khi nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, flavonoid, pectin, saponin, alcaloid, acid hữu cơ.

Công dụng: Thuốc giúp tiêu hóa, chữa ngực sườn đau tức, bụng chướng khó tiêu.

Cách dùng, liều lượng: 6-12g mỗi ngày, dạng thuốc sắc, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Cần thận trọng khi dùng cho phụ nữ có thai.

 

CH̉I M̉I TÍA

Tên khác: Chu ṃi, Chóp ṃi.

Tên khoa học: Antidesma bunius (L.) Spreng., họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Cây mọc hoang ở các vùng đồi núi nước ta, cũng được trồng để dùng làm thuốc.

Bộ phận dùng: Rễ và lá (Radix et Folium Antidesmae Bunii). lấy rễ, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô. Lá thu hái quanh năm, thường dùng tươi. Quả cũng được dùng.

Thành phần hoá học chính: Vỏ cây chứa alcaloid.

Công dụng: Quả dùng chữa ho, sưng phổi. Hoa chữa tê thấp. Cành non, rễ dùng làm thuốc điều kinh. Vỏ cây chữa ỉa chảy và làm thuốc bổ, chữa các chứng sản hậu. Lá dùng ngoài đắp chữa đau đầu, chữa các vết cắn của côn trùng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 20-40g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

 

 CHU SA- THẦN SA

Cinnabaris

Nguồn gốc: Chu sa và Thần sa là một loại thuốc có thành phần hoá học giống nhau. Loại có nguồn gốc từ Hồ nam (Trung Quốc) được gọi là Thần sa, được coi là loại tốt. Nước ta phải nhập vị thuốc này từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Thuỷ ngân sulfua, selenua thuỷ ngân (trong Thần sa nhiều gấp 10 lần Chu sa).

Công dụng: An thần, chữa điên cuồng, mất ngủ, ác mộng, dùng ngoài trị mụn nhọt.

Cách dùng, liều lượng: Dùng trong, ngày 0,3-1g. Phối hợp trong các phương thuốc trấn kinh, an thần, dùng dạng hoàn tán. Các sách Y học cổ truyền ghi: Chu sa, Thần sa uống phải dùng sống tuyệt đối, dùng lửa có thể gây chết người (nhiệt độ cao làm muối thuỷ ngân tan nhiều). Khi dùng thường chế theo phương pháp thuỷ phi với nam châm nhằm loại hết tạp sắt.

Dùng ngoài: Nghiền thành bột bôi vào mụn nhọt.

 

 

 CHUA NGÚT

Tên khác: Cây chua meo, Cây thùn mũn, Cây phi tử.

Tên khoa học: Embelia ribes Burn, họ Đơn nem (Myrsinaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Quả phơi hay sấy khô

Thành phần hoá học chính: Tanin, tinh dầu, acid embelic.

Công dụng: Dùng chữa giun đũa, giun kim, sán.

Cách dùng, liều lượng: Nhịn ăn tối hôm trước, sáng sớm hôm sau uống 5g bột quả.

Ghi chú: Một số nước dùng quả cây Embelia robusta Roxb., cây E. micrantha DC. với cùng công dụng.

 

CHÙM NGÂY

Tên khác: Cải ngựa.

Tên khoa học: Moringa oleifera Lamk. =  Moringa pterygosperma Gaertn.m, họ Chùm ngây (Moringaceae). Cây mọc hoang nhiều ở miền Nam nước ta.

Bộ phận dùng: Lá, rễ, toàn cây.

Thành phần hoá học chính: Lá Chùm ngây chứa gôm, alcaloid, vỏ thân có benzylamin và β-sitosterol, toàn cây có pterygospermin.

Công dụng: Lá, cành non kích thích tiêu hoá, làm thuốc lợi sữa. Lá già phơi khô sắc uống có tác dụng lợi tiểu nhẹ. Dầu ép từ hạt pha loăng dùng xoa bóp chữa tê thấp. Hạt có thể dùng làm sạch nước. Một số địa phương dùng lá Chùm ngây non xào cùng thịt ḅ làm thức ăn.

 

 

CHUỐI HỘT

Tên khác: Chuối chát.

Tên khoa học: Musa brachycarpa Back. = Musa basjoo Sieb., họ Chuối (Musaceae). Cây được trồng ở nhiều nơi trong nước ta để lấy quả làm thuốc, thân cây làm thức ăn gia súc.

Bộ phận dùng: Củ, thân, quả, hạt.

Thành phần hoá học chính: Tinh bột, đường, protein.

Công dụng: Quả chuối hột xanh chữa sỏi đường tiết niệu. Quả chín đăi lấy hạt phơi khô, dùng trong các bài thuốc điều trị bệnh gút. Củ chuối hột chữa sốt cao, mê sảng. Dịch tiết ra từ thân cây chuối hột dùng để chữa tiểu đường. Nước sắc lá, thân chuối hột làm thuốc lợi tiểu, chữa phù thũng.

Cách dùng, liều lượng: Quả chuối hột thái mỏng, sao vàng. mỗi ngày 30-50g sắc thành nước uống. Hạt chuối hột rang gịn, giă nát thành bột, ngày 10-15g pha nước uống thay trà.

 

 CHÚT CHÍT

Tên khác: Thổ đại hoàng, Lưỡi ḅ, Dương đề

Tên khoa học: Rumex wallichii Meissn., họ Rau răm (Polygonaceae). Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Rễ củ (Radix Rumicis)

Thành phần hóa học: anthranoid, tanin, nhựa.

Công dụng: Thuốc nhuận tràng, tẩy, chữa táo bón, bí đại tiện, chữa hoàng đản, mụn nhọt, hắc lào, các loại lở ngứa, đầu có vẩy trắng, chữa ứ huyết sưng đau.

Cách dùng, liều lượng: Nhuận tràng 4-6g; Tẩy 6-12g, dùng dưới dạng thuốc sắc, cao lỏng, bột. Rễ, lá tươi, giă vắt lấy nước (hoặc rễ khô ngâm cồn) bôi chữa hắc lào, tắm ghẻ.

 

CÔCA

Tên khoa học: Erythroxylon coca Lamk., họ Côca (Erythroxylaceae). Cây có nguồn gốc từ các vùng nhiệt đới, Á nhiệt đới. Cây được đưa vào trồng ở nước ta từ đầu thế kỷ XX.

Bộ phận dùng: Lá.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid (»2%) là dẫn chất của N-metyl pyrrolidin (Hygrin cuscohygrin) và dẫn xuất của pseudotropanol (cocain).

Công dụng: Sản xuất cocain hydrochlorid làm thuốc tê tại chỗ trong nha khoa, tai mũi họng.

Làm nguyên liệu chế nước giải khát (coca-cola).

Chú ư: Lá Côca và alcaloid chiết xuất từ lá là sản phẩm gây nghiện, cocain là một trong các chất ma tuư. Có nhiều giống côca khác nhau: Erythroxylon coca Lamk. nguồn gốc BoliviaPeru có lá dài và to. Loài Erythroxylon coca var. spruceanum Burck trồng ở Giava (Indonexia) có lá mỏng và nhỏ, Erythroxylon coca var. novodrannatense Morris, có lá tṛn và rộng, đều được sử dụng không phân biệt.

 

CỎ DÙI TRỐNG

Flos Eriocauli

Tên khác:   Cốc tinh thảo.

Nguồn gốc: Vị thuốc là cụm hoa phơi khô của cây Cỏ dùi trống  (Eriocaulon sexangulare L.), họ Cỏ dùi trống (Eriocaulonaceae). Cây mọc hoang ở nhiều địa phương nước ta. Vị thuốc phải nhập một phần từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Carbohydrat.

Công dụng: Chữa viêm kết mạc, chữa nhức đầu, đau mắt, đau bụng. Chữa quáng gà, chữa đau răng, đau họng, ngứa lở, chữa tiểu tiện khó.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-16g, dạng thuốc sắc, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Người ta thường chia Cỏ dùi trống thành hai loại. Cỏ dùi trống nếp có đầu cụm hoa lơm, màu trắng ngà đến nâu nhạt. đường kính từ 0,5cm trở lên. Cỏ dùi trống tẻ đầu cụm hoa không lơm, màu hơi xám, kích thước bé hơn. 

 

CỎ KỲ NHÔNG

Tên khác: Cỏ trái khế, Cây thuốc lậu.

Tên khoa học: Sebastiana chamaelea (L.) Muell. Arg., Tragia chamaelea L., Microstachys chamaelea (L.) Muell. Arg., họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi ở nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Sebastianae Chamaeleae), thu hái quanh nặm, dùng tươi hay phơi khô dùng dần.

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, saponin, tanin, steroid, các phenolic acid.

Công dụng: Cỏ Kỳ nhông có tác dụng làm se và bổ, được dùng để chữa bệnh ỉa chảy và bệnh giang mai. Toàn cây phối hợp với các vị thuốc khác sắc uống trị ban.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-20g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

 

 CỎ LÀO

Tên khác: Cây bơm bớp.

Tên khoa học: Eupatorium odoratum L. = Chromolaena odorata (L.) King et Robinson , họ Cúc (Asteraceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Lá, rễ.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, flavonoid, coumarin, alcaloid, tanin...

Công dụng, cách dùng: Nước sắc lá chữa tiêu chảy, kiết lỵ, đau nhức xương. Chữa ho, cảm lạnh. Lá giă nát đắp chữa mụn nhọt, các vết loét lâu liền, cầm máu khi bị đỉa cắn, chữa bỏng và vết thương phần mềm. Dùng dạng nước sắc hoặc cao lỏng.

 

CỎ LƯỠI RẮN

Tên khác: Tán pḥng hoa nhĩ thảo, Vương thái tô,  , Nọc sởi.

Tên khoa học: Oldenlandia corymbosa L. = Hedyotis corymbosa (L.) Lamk., họ Cà phê (Rubiaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất.

Thành phần hoá học chính: Acid hữu cơ.

Công dụng: Thanh nhiệt giải độc. Chữa sốt, chữa ho, viêm họng, viêm đường tiết niệu, chữa sốt rét, rắn cắn.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g dược liệu khô, dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Loài Oldenlandia diffusa (Willd.) Roxb. cũng được dùng với cùng công dụng (xem 21. Bạch hoa xà thiệt thảo).

 

 

 CỎ MẦN TRẦU

Tên khác: Tết suất thảo, Ngưu cần thảo.

Tên khoa học: Eleusine indica Gaerth., họ Lúa (Poaceae). Cỏ mọc hoang khắp nơi ở nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Eleusine).

Thành phần hóa học: Flavonoid, sitosterol.

Công dụng: Chữa huyết áp cao, sốt cao, co giật, hôn mê, chữa ghẻ lở, nổi mẩn, làm ra mồ hôi, mát gan.

Cách dùng, liều lượng: 60-100g cỏ Mần trầu rửa sạch, giă nát, thêm nước đun sôi để nguội, gạn lấy nước, thêm đường để uống có thể dùng tới 500g cỏ tươi, thường dùng dạng thuốc sắc kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Cỏ chân vịt (Dactyloctenium aegyptium (L.) Richt.) cụm hoa gần giống Cỏ mần trầu chú ư tránh nhầm lẫn.

 

CỎ NGỌT

Tên khác: Cỏ đường, Cúc ngọt.

Tên khoa học: Stevia rebaudiana (Bert.) Hemsl.= Eupatorium rebaudianum Bert., họ Cúc (Asteraceae). Cây có nguồn gốc từ Paragoay được đưa vào trồng ở một số địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Steviae).

Thành phần hoá học chính: Lá chứa các glycosid diterpenic: steviosid, rebaudiosid và dulcosid. Steviosid có vị ngọt gấp 150-280 lần cao hơn saccharose.

Công dụng: Cỏ ngọt dung thay thế đường cho các bệnh nhân bị bệnh tiểu đường, Cỏ ngọt và steviosid làm giảm nhu cầu chất bột và chất đường của cơ thể nên cũng được sử dụng ngăn chặn quá tŕnh béo ph́. Lá Cỏ ngọt, steviosid dùng làm chất điều vị cho các loại trà thuốc, trà túi lọc và được dùng trong công nghiệp thực phẩm.

 

 

CỎ NHỌ NỒI

Tên khác: Cỏ mực, Hạn liên thảo

Tên khoa học: Eclipta alba Hassk. = Eclipta prostrata L., họ Cúc (Asteraceae). Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Ecliptae).

Thành phần hoá học chính: Saponin, coumarin, alcaloid, tinh dầu, tanin.

Công dụng: Làm thuốc cầm máu, chữa lỵ, tiêu chảy, chữa sốt xuất huyết, ho ra máu, chảy máu cam, nôn ra máu, rong kinh, Chữa tiểu tiện ra máu do viêm nhiễm mạn tính đường tiết niệu.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 10-20g, dùng tươi hoặc phơi khô, dạng thuốc sắc, cao, hoàn...

 

 CỎ ROI NGỰA

Herba Verbenae

Tên khác: Mă tiên thảo.

Nguồn gốc: Toàn cây bỏ rễ của cây Cỏ roi ngựa (Verbena officinalis L.), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae). Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta.

Thành phần hoá học chính: Iridoid glycosid (verbenalin). Lá Cỏ roi ngựa chứa tinh dầu gồm hơn 40 thành phần trong đó thành phần chủ yếu là spathulenol.

Công dụng: Chữa kinh nguyệt không thông, huyết ứ, chữa tiểu rắt, tiểu buốt. Chữa viêm cầu thận măn tính. Chữa viêm gan bụng chướng, viêm thận thuỷ thũng. Chữa tắc tia sữa, lở ngứa, làm tiêu mụn nhọt.

Cách dùng, liều lượng: 6-12g khô (25-50g tươi) mỗi ngày, dùng dạng thuốc sắc, thường kết hợp với các vị thuốc khác.

 

 

CỎ SỮA LÁ LỚN

Tên khác: Cỏ sữa lá to. Phi dương thảo.

Tên khoa học: Euphorbia pilulifera L. hay Euphorbia hirta L. , họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây bỏ rễ.

Thành phần hoá học chính: Nhựa mủ trắng, sitosterol, acid shikimic, flavonoid, tanin, đường, alcaloid...

Công dụng: Chữa lỵ trực khuẩn, hội chứng lỵ, tiêu chảy. Chữa viêm ruột măn do amip.

Cách dùng, liều lượng: 10-20g mỗi ngày, dạng thuốc sắc, dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Phụ nữ có thai không dùng Cỏ sữa lá lớn.

 

 CỎ SỮA LÁ NHỎ

Tên khoa học: Euphorbia thymifolia Burm., họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Cây mọc hoang khắp nơi ở nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây.

Thành phần hoá học chính: Nhựa mủ, flavonoid, alcaloid, sterol. Cỏ sữa lá nhỏ chứa tinh dầu, thành phần chủ yếu là cymol, carvacrol.

Công dụng: Chữa lỵ trực khuẩn, hội chứng lỵ, đặc biệt đối với trẻ em. Chữa đại tiện ra máu, táo bón. Có thể dùng làm thuốc diệt sâu bọ, giă đắp chữa bệnh ngoài da.

Cách dùng, liều lượng: Toàn cây phơi khô, sao vàng, sắc uống, mỗi ngày 15-20g, có thể tới 50g cho trẻ em. Người lớn có thể dùng tới 100-150g.

 

 

CỐT KHÍ CỦ

Radix Polygoni cuspidati

Nguồn gốc: Rễ phơi hay sấy khô của cây Cốt khí củ (Polygonum cuspidatum Sieb. et Zucc. = Reynoutria japonica Houtt.), họ Rau răm (Polygonaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi để làm thuốc.

Thành phần hóa học: Anthranoid, chủ yếu là emodin.

Công dụng: Trị đau xương, trừ thấp, bổ thận. Trị mụn nhọt, mẩn ngứa, tiểu tiện ra máu, tiểu rắt, tiểu buốt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc, thường dung với các vị thuốc khác. Khi dùng phải sao kỹ để giảm anthranoid, dùng sống dễ bị tiêu chảy.

Chú ư: Có nhiều cây mang tên “Cốt khí”, Cốt khí muồng (Cassia occidentalis L.), Cốt khí dây (Sabia olacifolia Stapf), Cốt khí thân trắng (Tephrosia candida DC.), Cốt khí thân tím (Tephrosia purpurea (L.) Pers., chú ư tránh nhầm lẫn.

 

CỐT TOÁI BỔ

Rhizoma Drynariae

Nguồn gốc: Thân rễ đă phơi, sấy khô của cây Cốt toái bổ (Drynaria fortunei J.Sm. = Polypodium fortunei Kze), họ Dương xỉ (Polypodiaceae). Cây mọc hoang ở nước ta.

Thành phần hoá học chính: Tinh bột, flavonoid.

Công dụng: Thuốc bổ thận, trị đau xương, đau lưng, mỏi gối, chữa dập xương, tiêu chảy kéo dài, chảy máu răng.

Cách dùng, liều lượng: Dùng uống hay đắp ở ngoài. Ngày dùng 6-12g dạng thuốc sắc hay ngâm rượu.

Chú ư: Một số loài thuộc chi Drynaria như cây Tắc kè đá (Drynaria bonii Christ.), cây Ráng bay (Drynaria quercifolia (L.) J. Sm. = Polypodium quercifolium L.), cũng được thu hái làm thuốc.

 

 CỦ MÀI

Rhizoma Dioscoreae persimilis  

Tên khác: Hoài sơn, Sơn dược.

Nguồn gốc: Rễ củ đă chế biến khô của cây Củ mài (Dioscorea persimilis Prain et Burkill), họ Củ nâu (Dioscoreaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi.

Thành phần hoá học chính: Tinh bột, chất nhầy, acid amin, chất béo.

Công dụng: Thuốc bổ, chữa suy nhược cơ thể, mạnh gân xương, chữa tiểu đường, gầy yếu, di tinh, giúp tiêu hoá.

Cách dùng, liều lượng: 12-24g mỗi ngày, dạng thuốc sắc hay thuốc bột.

Chú ư: Trên thực tế người ta c̣n chế biến Hoài sơn từ một số loài khác thuộc chi Dioscorea như Củ cọc (Dioscorea glabra Roxb.), Củ cái (Dioscorea alata L.) Củ mỡ ... tác dụng của chúng so với Hoài sơn chưa có tài liệu khẳng định.

 

CÚC HOA

Flos Chrysanthemi indici 

Tên khác: Cúc hoa vàng, Kim cúc.

Nguồn gốc: Dược liệu là cụm hoa đă chế biến và làm khô của cây Cúc hoa (Chrysanthemum indicum L.), họ Cúc (Asteraceae). Cây trồng trong nước ta để làm thuốc.

Thành phần hoá học: Tinh dầu, flavonoid, vitamin A, acid amin (cholin).

Công dụng: Thuốc chữa nhức đầu, chóng mặt, cao huyết áp, hoa mắt, đau mắt đỏ, mắt mờ, chảy nước mắt, đinh độc, mụn nhọt sưng đau. Dùng để ướp chè, nấu rượu.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 2-10g dưới dạng thuốc sắc.

Ghi chú: Trên thị trường c̣n dùng vị Cúc hoa (Flos Chrysanthemi) cụm hoa lấy từ cây Chrysanthemum morifolium Ramat. thường có mầu trắng hoặc vàng nhạt, cụm hoa to hơn Cúc hoa vàng.

 

CÚC TẦN

Tên khoa học: Pluchea indica Less., họ Cúc (Asteraceae). Cây mọc hoang và trồng làm hàng rào.

Bộ phận dùng: Rễ (Radix Plucheae), lá, cành.

Thành phần hoá học chính: Cành, lá Cúc tần chứa tinh dầu, acid chlorogenic, protein.

Công dụng: Chữa cảm sốt không ra mồ hôi, nhức đầu, thấp khớp, đau lưng, nhức xương.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 8-16g dưới dạng thuốc sắc.

Lá, cành non nấu nước xông chữa cảm, tắm để chữa ghẻ, giă nát, thêm rượu đắp chỗ đau.

Ghi chú: Người ta c̣n dùng rễ, thân cây Cúc tần với tên gọi Sài hồ nam.

 

CỬU KHỔNG

Concha Haliotidis

Tên khác: Thạch quyết minh, Bào ngư.

Nguồn gốc: Dược liệu là vỏ một số loài Bào ngư (Haliotis diversicolor Reeve - Cửu khổng bào), (Haliotis ginantea Reeve - Bàn đại bào), (Haliotis ovina Gmelin - Dương bào), họ Bào ngư (Haliotidae). Các loài Bào ngư này được khai thác ở một số đảo miền Bắc nước ta.

Thành phần hóa học: Cửu khổng chứa các muối vô cơ, chủ yếu là calci cacbonat.

Công dụng: Chữa thong manh, kém mắt, chữa đau dạ dày, cầm máu.

Cách dùng, liều lượng: Cửu khổng thường được nung lên, tán thành bột để dùng, mỗi ngày 3-6g bột thuốc. 5-30g mỗi ngày dạng nước sắc từ bột.

Chú ư: Cửu khổng hiện nay được dùng nhiều trong công nghệ chạm khảm đồ gỗ. Thịt Bào ngư là loại hải sản quư, chứa nhiều chất dinh dưỡng.

 

 

 DẠ CẨM

Tên khác:   Cây loét mồm, Đất lượt.        

Tên khoa học: Hediotis capitellata Wall. ex G. Don= Oldenlandia capitellata Kuntze., họ Cà phê (Rubiaceae). Cây mọc hoang ở các vùng đồi núi khắp nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây bỏ rễ (Herba Hedyotis capitellatae).

Thành phần hoá học chính: Lá có tanin, alcaloid, saponin.

Công dụng: Chữa đau dạ dày, loét miệng, loét lưỡi.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 20-40g sắc uống, chia làm 2-3 lần. Có thể dùng dưới dạng cao, cồn, bột.

 

DÂM BỤT

Tên khác:   Bông bụt, Bụp.          

Tên khoa học: Hibiscus rosa-sinensis L., , họ Bông (Malvaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi khắp nước ta.

Bộ phận dùng: Lá, hoa, vỏ rễ.

Thành phần hoá học chính: Chất nhầy, sistosterol, alcaloid, hoa chứa nhiều flavonoid...

Công dụng: Lá, hoa chữa mụn nhọt sưng đau, đỏ nóng, có mủ mà không vỡ được, chữa viêm nhiễm đường sinh dục. Vỏ rễ chữa lỵ, chữa kinh nguyệt không đều, kinh nguyệt ra nhiều máu, rong huyết. Hoa Dâm bụt chữa khó ngủ, hồi hộp.

Cách dùng, liều lượng: Lá, hoa tươi giă nhỏ với một ít muối đắp lên mụn nhọt đang mưng mủ, khô thuốc lại thay. Vỏ rễ sắc với nước để uống chữa lỵ hoặc để rửa mụn nhọt. Hoa hăm với nước nóng uống thay chè.

  

DÂM DƯƠNG HOẮC

Herba Epimedii

Nguồn gốc: Là thân mang lá phơi khô của cây Dâm dương hoắc (Epimedum macranthum Merr. et Desne.), Dâm dương hoắc lá h́nh tim (E. brevicornn Maxim), Dâm dương hoắc lá mũi tên (E. sagittatum (Sieb. et Zucc.) Maxim), họ Hoàng liên gai (Berberidaceae). Một số loài Dâm dương hoắc mọc hoang ở vùng núi cao nước ta. Vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, saponin, alcaloid.

Công dụng: Chữa nam giới không có khả năng sinh hoạt t́nh dục, lưng gối mỏi đau, gân xương co quắp, chân tay tê bại, bán thân bất toại. Chữa cao huyết áp trong thời kỳ măn kinh ở nữ giới. Làm thuốc bổ thận cho người cao tuổi.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 4-12g, dạng thuốc sắc, hoàn tán, ngâm rượu. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

 

DÂU TẰM

Tên khác: Tang.

Tên khoa học: Morus alba L., họ Dâu tằm (Moraceae). Cây được trồng khắp nơi trong nước ta lấy lá nuôi tằm, làm thuốc.

Bộ phận dùng: Vỏ rễ (Tang bạch b́ - Cortex Mori). Lá (Tang diệp - Folium Mori). Cành (Tang chi - Ramulus Mori). Quả (Tang thầm - Fructus Mori). Tầm gửi trên cây Dâu (Tang kư sinh - Ramulus Loranthi). Tổ bọ ngựa trên cây Dâu (Tang phiêu tiêu - Ootheca Mantidis).

Thành phần hoá học chính:

- Tang bạch b́: Acid hữu cơ, tanin, pectin, flavonoid.

- Tang diệp: Chlorophyl, flavonoid, coumarin. Tang chi chứa cellulose, tanin, flavonoid. Tang thầm chứa Anthocyan (sắc tố màu đỏ của quả chín), đường (glucose, fructose), vitamin B1, C, tanin, protein và acid hữu cơ.

Công dụng, cách dùng, liều lượng:

- Tang bạch b́: chữa ho, ho ra máu, phù thũng, đi tiểu ít. Ngày dùng 4-12g, dạng thuốc sắc.

- Tang diệp: chữa cảm mạo, ho, họng đau, nhức đầu, mắt đỏ, chảy nước mắt, phát ban, huyết áp cao, mồ hôi trộm. Ngày dùng 4-12g, dạng thuốc sắc.

- Tang chi: chữa tê thấp, chân tay co quắp. Ngày dùng 20-40g, dạng thuốc sắc.

- Tang thầm: chữa bệnh tiểu đường, lao hạch, mắt mờ, ù tai, thiếu máu. Nước quả Dâu cô thành cao. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 5g. Liều dùng từ 12-20g.

- Tang kư sinh: Trị các chứng phong thấp, tê bại, đau lưng, mỏi gối. Trị động thai, đau bụng. Ngày dùng 12-20g.

- Tang phiêu tiêu: Chữa hư lao, đổ mồ hôi trộm, di tinh, bạch đới, tiểu đục, đi tiểu không nín được (tẩm rượu sao, uống ngày 8g với nước chín). Trẻ em nổi mụn có mủ (đốt tồn tính, tán bột, hoà với dầu để bôi).

 

DẦU GIUN

Tên khác: Cây thanh hao dại, Thổ kinh giới, Kinh giới đất, Rau muối dại, Cỏ hôi.

Tên khoa học: Chenopodium ambrosioides L. = Chenopodium anthelminticum A. Gray., họ Rau muối (Chenopodiaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Cành, lá.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, thành phần chủ yếu của tinh dầu là ascaridol.

Công dụng: Cất tinh dầu làm thuốc chữa giun đũa, giun móc. Cành lá cây Dầu giun sắc lấy nước đặc để rửa chữa viêm kẽ chân và eczema.

Cách dùng, liều lượng:

Uống 30-50 giọt tinh dầu chia làm 2 hay 3 lần. Cần kết hợp với thuốc tẩy.

Chú ư: Thuốc có độc, phải cẩn thận khi dùng.

 

DÂY CHIỀU

Tên khác: Chạc ch́u, Tích diệp đằng, U chạc ch́u.

Tên khoa học: Tetracera scandens (L.) Merr. Syn. Tetracera sarmentosa (L.) Vahl, họ Sổ (Dilleniaceae).

Bộ phận dùng: Rễ, thân.

Thành phần hóa học chính: isorhamnetin, rhamnetin.

Công dụng: Chữa phong thấp, thông tiểu, chữa kiết lỵ, đau bụng đi ngoài ra máu, chữa vết thương lở loét.

Cách dùng, liệu lượng: Dùng trong: sắc uống ngày 40-50g, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác, dùng ngoài (sắc đặc, nửa), chữa vết thương, mụn nhọt.

 

 

DÂY ĐAU XƯƠNG

Caulis Tinosporae tomentosae

Nguồn gốc: Thân đă thái phiến phơi khô của Dây đau xương (Tinospora tomentosa Miers. = Tinospora sinensis (Lour.) Merr), họ Tiết dê (Menispermaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi trong nước ta.

Thành phần hoá học chính: alcaloid.

Công dụng: Chữa sai khớp xương, bong gân. Chữa xương khớp đau nhức, tê bại, đau lưng mỏi gối do thận yếu, chấn thương tụ máu, sốt rét kinh niên. Chữa rắn cắn.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 10-20g, dạng thuốc sắc. Chữa rắn cắn, lấy lá và thân dây đau xương tươi giă nhỏ vắt lấy nước uống, bă đắp lên vết rắn cắn. Thường dùng kết hợp Dây đau xương với các vị thuốc khác.

 

 DÂY TH̀A CANH

Tên khác: Dây muôi.

Tên khoa học: Gymnema sylvestre (Retz.) R. Br ex Schult, họ Thiên lư (Asclepiadaceae). Thường mọc trong các bờ bụi, hàng rào ở nhiều địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Dây, lá (Caulis et Folium Gymnemae sylvestris). Dùng tươi hay khô dùng dần.

Thành phần hoá học chính: Acid hữu cơ (acid gymnemic), anthranoid, carbohydrat, nhựa.

Công dụng: Dây th́a canh kích thích tim và hệ thống tuần hoàn, gây bài tiết nước tiểu, làm giảm đường huyết do tăng tiết insulin của tuyến tuỵ, làm thuốc trị phong thấp tê bại, viêm mạch máu, bệnh trĩ và các vết thương. Lá dùng làm thuốc dễ tiêu hoá, gây nôn. Rễ có tác dụng gây nôn, long đờm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-10g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

Chuyển lên đầu trang

 DIGITAL

Tên khác: Dương địa hoàng.

Tên khoa học: Digitalis purpurea L., Digitalis lanata Ehr. một số loài Digitalis khác, họ Hoa mơm chó (Scrophulariaceae). Cây có trồng ở nước ta.

Bộ phận dùng: Lá (Folium Digitalis).

Thành phần hoá học chính: Lá Dương địa hoàng chứa các glycosid tim, flavonoid, saponin.

Công dụng: Làm thuốc trợ tim trong trường hợp suy tim nhịp không đều; làm nguyên liệu chiết xuất các glycosid tim.

 Cách dùng, liều lượng: Bột lá: Người lớn uống mỗi lần 0,05-0,1g, uống 3-4 lần trong ngày. Trẻ em uống mỗi lần 0,005-0,006g tuỳ theo tuổi. C̣n dùng dưới dạng viên, cồn thuốc, nước sắc.

 

DỨA BÀ

Tên khác: Thùa, Dứa Mỹ.

Tên khoa học: Agave americana L., họ Thùa (Agavaceae). Cây có nguồn gốc ở Bắc và Trung Mỹ nay được trồng ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Lá, rễ.

Thành phần hoá học chính: Sapogenin steroid chủ yếu là hecogenin và tigogenin.

Công dụng: Sử dụng chủ yếu làm nguyên liệu bán tổng hợp các hormon steroid.

Lá chữa sốt, lợi tiểu; rễ chữa đau nhức, thấp khớp. Chữa vết thương, vết loét.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 2-5g lá khô dưới dạng thuốc sắc để uống, rễ thái mỏng, sao hơi vàng ngâm rượu hay rượu thuốc. Dùng lá giă nát đắp lên vết thương, vết loét.

 

 DỪA CẠN

Tên khoa học: Catharanthus roseus (L.) G. Don = Vinca rosea L., họ Trúc đào (Apocynaceae). Cây mọc hoang và được trồng làm cảnh khắp nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Thân, lá, rễ.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid (1%), gồm trên 70 chất khác nhau, chủ yếu là vinblastin, vincaleucoblastin, leucocristin, reserpin, ajmalicin.

Công dụng: Cao lỏng toàn cây Dừa cạn có tác dụng hạ huyết áp, an thần, gây ngủ. Thân, rễ Dừa cạn làm thuốc thông tiểu tiện, chữa chứng nước tiểu ít và đỏ, bế kinh, có thể làm thuốc ra mồ hôi, tiêu hoá kém, chữa lỵ cấp và mạn tính. Viên Vinca chứa alcaloid toàn phần của thân, lá làm thuốc chữa cao huyết áp. Rễ Dừa cạn làm nguyên liệu chiết xuất ajmalicin. Vinblastin, vincristin chiết từ lá Dừa cạn dưới dạng muối sulfat để tiêm chữa ung thư, đặc biệt là bệnh bạch cầu.

 

DỨA DẠI

Tên khác: Dứa gai.

Tên khoa học: Pandanus tectorius Sol., Pandanus tonkinensis Mart., họ Dứa dại (Pandanaceae). Cây mọc hoang và được trồng làm bờ rào ở nhiều nơi.

Bộ phận dùng: Ngọn non, rễ, quả.

Thành phần hoá học: Acid hữu cơ.

Công dụng: Rễ Dứa dại chữa phù thũng, chữa gẫy xương, chữa chứng tiểu rắt, nước tiểu vàng đục. Ngọn non chữa sỏi thận, chữa chứng tiểu buốt, tiểu ra máu, chữa kinh phong trẻ em. Quả non phơi khô chữa cao huyết áp, tiểu đường.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-16g dưới dạng thuốc sắc, thường dùng chung với các vị thuốc khác.

 

 ĐẠI BI

Tên khác: Mai hoa băng phiến, Long năo hương, Từ bi.

Tên khoa học: Blumea balsamifera DC., họ Cúc (Asteracea). Cây mọc hoang nhiều nơi ở nước ta.

Bộ phận dùng: Lá, tinh dầu.

Thành phần hoá học: Lá chứa tinh dầu, thành phần chủ yếu là borneol, camphor. Khi cất tinh dầu lấy riêng borneol và camphor gọi là mai hoa băng phiến hay băng phiến đại bi.

Công dụng: Chữa cảm sốt, ho, đầy bụng khó tiêu.

Mai hoa băng phiến chữa mắt kéo màng, bụng đau, ho lâu ngày, ngạt mũi, tức ngực, cảm gió, cấm khẩu.

Cách dùng, liều lượng: Xông chữa cảm mạo. Uống nước sắc 20-30g lá tươi/ngày chữa đầy bụng, khó tiêu. Uống 0,1-0,2g mai hoa băng phiến mỗi ngày, chia làm nhiều lần.

Ghi chú: Băng phiến (Borneol) có thể chế được bằng phương pháp tổng hợp hoặc cất từ cây Long năo hương (Dryobalanops aromatica Gaertn.).

 

 ĐẠI HOÀNG

Radix et  Rhizoma Rhei

Nguồn gốc: Rễ, thân rễ đă cạo vỏ phơi khô của cây Đại hoàng (Rheum palmatum L.), họ Rau răm (Polygonaceae) và một số loài thuộc chi này. Vị thuốc nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Anthranoid, tanin.

Công dụng: Liều nhỏ có tác dụng lợi tiêu hoá, liều cao tẩy nhẹ trong trường hợp táo bón, làm thuốc bổ đắng cho người mới ốm dậy, người già thiếu máu, biếng ăn.

Cách dùng, liều lượng: Thuốc bổ 0,15-0,3g; thuốc nhuận 0,2-0,4g; tẩy 1,0-4,0g. Dạng dùng: thuốc sắc, cao, cồn, siro.

Ghi chú: Thổ đại hoàng là cây Chút chít (Rumex wallichii Meissn.), họ Rau răm (Polygonaceae). Rễ cây này cũng có chứa anthranoid, thường được dùng làm thuốc nhuận tràng và chữa hắc lào.

 

 ĐẠI HỒI

Fructus Anisi stellati

Tên khác: Bát giác hồi hương.

Nguồn gốc: Dược liệu là quả chín phơi khô của cây Hồi (Illicium verum Hook.f.), họ Hồi (Illiciaceae). Cây Hồi có ở một số tỉnh miền núi phía bắc nước ta, chủ yếu ở Lạng sơn.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, trong đó thành phần chủ yếu là anethol (80-85%).

Công dụng: Làm gia vị, chế rượu mùi, cất tinh dầu làm hương liệu, chế anethol làm nguyên liệu tổng hợp hormon. Chữa đau bụng lạnh, đầy chướng, nôn mửa.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 4-8g dạng rượu thuốc.

Ghi chú: Cây Hồi núi (Illicium griffithii Hook. et Thoms.) cho loại quả nhiều đại hơn. Tinh dầu Hồi núi thoảng mùi hạt tiêu. Trong Hồi núi có chất độc nên không dùng.

 

 ĐẠI KÍCH

Radix Euphorbia pekinensis

Tên khoa học: Euphorbia pekinensis Rupr, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc.

Bộ phận dùng: rễ.

Thành phần hoá học chính: Chưa thấy tài liệu nghiên cứu.

Công dụng: Là thuốc tẩy, xổ rất mạnh, chữa các chứng phù thũng măn, chữa nhọt độc.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 0,6-1,5g dùng dạng bột hay viên, dùng riêng hay kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Đại kích là thuốc có độc tính cao, không dùng cho phụ nữ có thai. Khi dùng thuốc nếu có các hiện tượng sưng chướng họng, nôn oẹ, choáng váng, co giật... là biểu hiện ngộ độc, phải ngừng thuốc. Không dùng phối hợp với Cam thảo.

 

 

ĐẠI TÁO

Fructus Ziziphi jujubae, Fructus Zizyphi sativae

Tên khác: Táo tàu.

Nguồn gốc: Là quả chín đă chế biến phơi hay sấy khô của cây Đại táo [Ziziphus jujuba Mill. var. inermis (Bge) Rehd.] = Ziziphus mauritiana Lamk., họ Táo ta (Rhamnaceae). Vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Carbohydrat, protid, chất béo, vitamin C, chất khoáng.

Công dụng: Chữa lo âu, mất ngủ, tỳ vị hư nhược.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 8-14g, thường phối hợp trong các bài thuốc bổ, sắc hoặc ngâm rượu uống.

 

 ĐẠI THANH DIỆP

Folium Isatidis

Nguồn gốc: Vị thuốc là lá cây Tùng lam (Isatis tinctoria L.), họ Cải (Brassicaceae), cây này không có ở nước ta.

Thành phần hoá học chính: Trong lá có glycosid (indican) thuỷ phân cho glycose và indoxyl, chất này bị oxy hoá cho indigotin (màu lam).

Công dụng: Chế thuốc nhuộm màu xanh lam thường dùng trong đông y làm thuốc chữa sốt, giải độc, viêm lợi chảy máu...

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-15g lá, 0,5-1g bột.

Chú ư: Cành, lá của nhiều cây được gọi là Đại thanh diệp. Ví dụ: Lá cây Nghể chàm (Polygonum tinctorium Ait.), cây Mă lam (Baphicananthus cusia (Nees) Bremek.), .

Chú ư: Tránh nhầm lẫn lá cây Bọ mẩy (Clerodendron cytophyllum Turcz.) thường gọi cây Đại thanh.

 

 ĐẠM ĐẬU SỊ

Semen Vignae

Tên khác: Đậu sị, Đỏ đậu sị.

Nguồn gốc: Vị thuốc là hạt đậu đen (Vigna cylindryca (L.) Skeels), họ Đậu (Fabaceae) đă chế biến và phơi khô.

Thành phần hoá học chính: Protein, lipid, glucid...

Công dụng liều dùng: Chữa các bệnh cảm mạo, thương hàn, sốt.Ngày dùng 12-24g dưới dạng thuốc bột hay thuốc sắc.

Chú ư: Chế biến đậu sị: Đậu đen rửa sạch, ngâm nước một đêm, đồ chín, rải đều lên nia, đợi cho ráo nước, phủ lá chuối lên cho kín, sau 3 ngày có mốc vàng đều là được. Hoặc vẩy nước vào đậu cho ẩm đều, cho vào thúng, phủ bằng lá dâu tằm cho kín, ủ cho lên mốc vàng đều, phơi khô, lặp lại nhiều lần đến khi tất cả đậu đều mốc vàng, lấy ra phơi khô.

 

 ĐẠM TRÚC DIỆP

Herba Lophatheri

Tên khác: Cỏ lá tre, Sơn kê mễ.

Nguồn gốc: Toàn cây cắt bỏ rễ con và phơi sấy khô của cây Đạm trúc diệp (Lophatherum gracile Brongn.), họ Lúa (Poaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi ở nước ta.

Thành phần hoá học chính: Acid hữu cơ, tanin.

Công dụng: Làm thuốc chữa sốt, thông tiểu, chữa các loại bệnh nhiệt, chữa lở miệng, lưỡi, lợi, răng sưng đau, chữa viêm đường tiết niệu, nước tiểu đỏ đậm, tiểu tiện ra máu. -

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-10g dưới dạng thuốc sắc, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: - Cây Thài lài (Comelina communis L.), họ Thài lài (Commelinaceae) cũng được dùng với tên Đạm trúc diệp.

- Phụ nữ có thai không dùng Đam trúc diệp. 

 

 ĐAN SÂM

Radix Salviae miltiorrhizae

Nguồn gốc: Dược liệu là rễ đă phơi hoặc sấy khô của cây Đan sâm (Salvia miltiorrhiza Bunge), họ Bạc hà (Lamiaceae). Cây trồng ở Trung Quốc, có trồng ở nước ta. Vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Các dẫn chất có nhóm ceton (tansinon I, tansinon II, tansinon III ), acid hữu cơ, vitamin.

Công dụng: Chữa hồi hộp mất ngủ, kinh nguyệt không đều, bế kinh, hạ tiêu kết ḥn cục, khớp sưng đau, mụn nhọt sưng tấy. Pḥng và điều trị đau thắt ngực, đau nhói vùng tim do huyết ứ, thiểu năng mạch vành.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g, dạng thuốc sắc.

 

ĐẢNG SÂM

Radix Campanumoeae

Tên khác: Pḥng đẳng sâm.

Nguồn gốc: Rễ phơi, sấy khô của cây Đảng sâm (Codonopsis pilosula Nannf., Campanumoea javanica Blume, họ Hoa chuông (Campanulaceae). Cây mọc hoang, được trồng ở vùng núi cao.

Thành phần hoá học: Saponin, đường, tinh bột.

Công dụng: Thuốc bổ máu, tăng hồng cầu. Dùng trong bệnh suy nhược, ăn không ngon, thiếu máu, ốm lâu ngày, ḷi dom, sa dạ con, rong huyết.                      

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g, có thể đến 40g. Dạng thuốc sắc, rượu thuốc, viên hoàn hay bột.

 

ĐÀO NHÂN

Semen Persicae

Nguồn gốc: Nhân hạt đă phơi khô lấy từ quả chín của cây Đào (Prunus persica (L.) Batsch.), họ Hoa hồng (Rosaceae). Cây được trồng ở một số địa phương nước ta để lấy quả ăn.

Thành phần hoá học chính: Dầu béo (50%), amygdalin (3,5%), tinh dầu (0,5%), emunsin.

Công dụng: Chữa kinh nguyệt không đều, bế kinh, đau bụng kinh. Chữa chấn thương tụ máu, chữa máu kết thành cục không tan trong bụng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Nhựa lấy từ cây Đào chữa đi tiểu ra máu, tiểu ra dưỡng trấp, tiểu đường. Hoa Đào làm thuốc chữa phù thũng. Quả đào non c̣n xanh bị rụng phơi sấy khô được gọi là Bích đào chữa ra mồ hôi trộm, chữa ra máu trong thời kỳ mang thai.

Không dùng Đào nhân cho phụ nữ có thai.

 

 ĐĂNG TÂM THẢO

Medulla Junci

Tên khác:   Cỏ bấc đèn, Bấc.

Nguồn gốc: Vị thuốc là lơi thân phơi khô của thân cây Bấc đèn (Juncus effusus L.), họ Bấc (Juncaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở những nơi ẩm ướt trong nước ta. Dược liệu phải nhập một phần từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Carbohydrat, tinh dầu, các acid amin.

Công dụng: Làm thuốc lợi tiểu tiện, tiêu phù thũng, chữa vàng da, chữa sốt viêm họng, miệng lưỡi lở loét, an thần, ho,.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 2-8g dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột.

 

 

ĐỊA CỐT B̀

Cortex Lycii sinensis

Nguồn gốc: Vỏ rễ phơi sấy khô của cây Khủ khởi (Lycium sinense Mill.), họ Cà (Solanaceae).

Thành phần hoá học: Saponin, alcaloid.

Công dụng: Chữa tiểu đường, uống nhiều, đi tiểu nhiều. Chữa sốt, giải nhiệt, ho lâu ngày, ho ra máu, đổ mồ hôi trộm, đi tiểu ra huyết. Chữa thân thể gầy ṃn, ốm lâu suy nhược.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g dạng thuốc sắc hay ngâm rượu, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Quả Khủ khởi chế biến thành vị thuốc Câu kỷ tử.

Hiện nay trên thị trường sử dụng vị thuốc Hương gia b́ (Periploca sepium Bge.) dưới tên Địa cốt b́.

Một số địa phương dùng vỏ rễ cây Đại thanh (Clerodendron cytophyllum Turcz.), với tên Địa cốt b́ nam.

Chuyển lên đầu trang

 

 ĐỊA DU

Radix et Rhizoma Sanguisorbae

Tên khoa học: Sanguisorba officinalis L., họ Hoa hồng (Rosaceae). Vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc.

Bộ phận dùng: Rễ và thân rễ, toàn cây.

Thành phần hoá học chính: Tanin, flavonoid, saponosid.

Công dụng: Được dùng cả trong Đông y và Tây y. Tây y dùng để cầm máu, giúp sự tiêu hoá, rửa các vết loét. Đông y dùng để cầm máu trong các trường hợp: nôn ra máu, chảy máu cam, đại tiện ra máu...

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 5-10g, dạng thuốc sắc, thường kết hợp với các vị thuốc khác. Đun nước đặc để rửa vết thương không kể liều lượng.

 

 

 ĐỊA HOÀNG

Radix Rehmanniae glutinosae

Tên khác: Can địa hoàng.

Nguồn gốc: Rễ củ phơi hay sấy khô của cây Địa hoàng (Rehmania glutinosa (Gaerth) Libosh.), họ Hoa mơm chó (Scrophulariaceae) gọi là Sinh địa, sau khi chế biến theo một số quy tŕnh nhất định gọi là Thục địa.

Thành phần hoá học chính: Rễ củ Địa hoàng chứa iridoid glycosid, flavonoid, acid amin, caroten.

Công dụng: Sinh địa dùng chữa ho ra máu, đổ máu cam, băng huyết, lậu huyết, tiểu ra máu, tiểu đường, tâm thần không yên, mất ngủ. Thục địa làm thuốc bổ huyết, điều kinh, chữa thận suy, chóng mặt, ù tai, râu tóc bạc sớm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 12-40g, dạng thuốc sắc. Địa hoàng là thành phần có trong các bài thuốc Bát vị, Lục vị, Thập toàn đại bổ, Hoàn hà xa đại tạo...

 

 ĐỊA LIỀN

Tên khác: Sơn nại, Tam nại.

Tên khoa học: Kaempferia galanga L., họ Gừng (Zingiberaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Thân rễ (Rhizoma Kaempferiae) thái lát, phơi sấy khô, lá.

Thành phần hoá học: Thân rễ chứa nhiều tinh dầu, thành phần chủ yếu là acid p-methoxy ethylcinamat, tinh bột.

Công dụng: - Thân rễ giúp tiêu hoá, chữa ăn uống khó tiêu, đau dạ dày, chữa cao huyết áp, hen suyễn. Dùng ngoài làm thuốc xoa bóp, chữa tê thấp, ngực, bụng lạnh đau.

- Lá giă nát, hơ nóng đắp chữa tê thấp.

Cách dùng, liều lượng: Uống mỗi ngày 4-8g dạng sắc hoặc hoàn tán, ngâm cồn xoa bóp. Thường phối hợp Địa liền với các vị thuốc khác.

 

 

 

 ĐỊA LONG

Tên khác: Khâu dẫn, Giun đất.    

Nguồn gốc: Vị thuốc là toàn thân bỏ ruột phơi khô của con Giun đất (Pheretima sp.), họ Cự dẫn (Megascolecidae). Nước ta có nhiều loài giun đất được sử dụng làm thuốc.

Thành phần hoá học chính: Chất béo, acid amin.

Công dụng: Dùng theo kinh nghiệm dân gian để chữa sốt rét, sốt, ho hen do tác dụng làm dăn phế quản. Dùng chữa bệnh cao huyết áp, cứng mạch máu, nhức đầu.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc hoặc 2-4g dưới dạng thuốc bột.

 

 ĐINH HƯƠNG

Flos Caryophylii

Nguồn gốc: Dược liệu là nụ hoa đă phơi khô của cây Đinh hương (Syzygium aromaticum (L.) Merill et L.M. Perry) = (Eugenia caryophylata Thunb.), họ Sim (Myrtaceae). Dược liệu phải nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học: Tinh dầu, trong đó 70-80% eugenol.

Công dụng: Chữa viêm nhiễm đường hô hấp như viêm xoang, hắt hơi, sổ mũi. Kích thích tiêu hoá, chữa đau bụng lạnh, đầy hơi, nấc, nôn, thổ tả. Chữa phong thấp, đau xương, nhức mỏi, chân tay lạnh. Tinh dầu làm thuốc sát trùng, diệt tuỷ răng và chế eugenat kẽm là chất hàn răng tạm thời.

Đinh hương dùng làm gia vị trong thực phẩm và hương liệu như chế nước hoa, pha rượu mùi, ướp thơm thuốc lá..

Cách dùng, liều lượng: Ngày 1-4g, dùng riêng hoặc phối hợp trong các bài thuốc sắc, bột, hoàn hoặc ngâm rượu.


ĐINH LĂNG

Radix Polysciacis

Tên khác: Cây gỏi cá.

Tên khoa học: Polyscias fruticosa Harms = Tieghemopanax fruticosus Vig. = Panax fruticosum L., họ Ngũ gia (Araliaceae). Cây được trồng làm cảnh, làm thuốc.

Bộ phận dùng: Rễ, thân, cành, lá.

Thành phần hoá học chính: Saponin triterpenic.

Công dụng: Chữa cơ thể suy nhược, tiêu hoá kém, sốt, sưng vú, ít sữa, nhức đầu, ho, ho ra máu, thấp khớp, đau lưng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 1-6g rễ hoặc 30-50g thân, cành dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu. Lá tươi (50-100g) nấu cháo để ăn, lợi sữa, giă đắp chữa vết thương, mụn nhọt, lá c̣n dùng để ăn gỏi cá.

 

Đ̀NH LỊCH

Tên khoa học: (Lepidium apetalum Willd. = Lepidium micranthum Lebour.), họ Cải (Cruciferae) Dược liệu nhập từ Trung Quốc.

Bộ phận dùng: Hạt - Đ́nh lịch tử (Semen Lepidii seu Descurainiae), lá, rễ.

Công dụng: Làm thuốc chữa ho nhiều đờm, hen, làm thuốc lợi tiểu, giảm phù.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 3-10g dùng dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các thuốc khác.

Ghi chú: Cây Tề thái (Capsella bursa-pastoris Medik.), họ Cải (Brassicaceae), và cây Đay (Corchorus spp.), họ Đay (Tiliaceae) cũng được gọi là Đ́nh lịch - Chú ư tránh nhầm lẫn. 

 

 

ĐƠN ĐỎ

Tên khác: Đơn lá đỏ, Đơn tía, Đơn mặt trời.

Tên khoa học: Excoecaria bicolor Hass, Excoecaria cochichinensis Lour, Excoecaria orientalis Pax. et Hoffm, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Cây được trồng làm thuốc, làm cảnh ở nhiều địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Lá, rễ.

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, saponin, coumarin, anthranoid, tanin.

Công dụng: Đơn đỏ chữa mụn nhọt, mẩn ngứa, chữa dị ứng, chữa tiêu chảy lâu ngày. Chữa đại tiện ra máu, kiết lỵ ở trẻ em. C̣n được dùng chữa sởi, quai bị, viêm amidan, đau ngực, đau thận, đau cơ

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-20g, sắc uống độc vị hoặc phối hợp trong các phương thuốc tiêu độc.

 

ĐỖ TRỌNG

Cortex Eucommiae

Nguồn gốc: Vỏ thân đă phơi hay sấy khô của cây Đỗ trọng (Eucomia ulmoides Oliv.), họ Đỗ trọng (Eucomiaceae). Nước ta có trồng được cây này ở một số vùng núi cao, có khí hậu mát. Dược liệu chủ yếu nhập của Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Nhựa, tinh dầu.

Công dụng: Thuốc bổ thận, gân cốt, chữa đau lưng, mỏi gối, di tinh, đi tiểu đêm nhiều lần, liệt dương, phụ nữ khó có thai, động thai. Chữa cao huyết áp.

Cách dùng, liều lượng: 5-12g mỗi ngày dạng thuốc sắc, ngâm rượu hay cao lỏng.

Ghi chú: Hiện nay trên thị trường có nhiều vị thuốc mang tên Đỗ trọng nam, là vỏ thân của một số cây khi bẻ ra có các sợi tơ màu trắng, ví dụ cây Đỗ trọng nam (Parameria glandulifera Benth.), họ Trúc đào (Apocynaceae), Vỏ cây San hô (Jatropha multifida L.), vỏ cây Cao su (Hevea brasilensis (HBK.) Muell.-Arg.), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).

 

ĐỘC HOẠT

Radix Angelicae

Nguồn gốc: Vị thuốc có nguồn gốc rất phức tạp, thường là rễ của cây Độc hoạt thuộc chi Angelica, họ Cần (Apiaceae). Cây thích hợp ở vùng khí hậu mát, nước ta có trồng cây này. Dược liệu chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, coumarin.

Công dụng: Chữa phong thấp, thân ḿnh đau nhức.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g phối hợp trong các bài thuốc trừ phong thấp.

Chú ư: Một số loài thuộc họ Ngũ gia cũng được dùng dưới tên Độc hoạt.

 

 ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO

Cordyceps

Tên khác: Trùng thảo, Hạ thảo Đông trùng.

Tên khoa học: Cordyceps sinensis (Berk) Sacc., họ Nhục toà khuẩn (Hypocreaceae), thuộc bộ Nang khuẩn (Ascomycetes). Là giống nấm mọc kư sinh trên sâu, nấm và sâu hợp sinh với nhau, mùa đông con sâu non nằm dưới đất, nấm phát triển, hút chất trong con sâu làm sâu chết. Đến mùa hạ nấm, mọc chồi khỏi mặt đất, nhưng gốc vẫn dính vào đầu sâu.

Thành phần hoá học chính: Protein, acid hữu cơ...

Công dụng: Thuốc bổ, chữa thần kinh suy nhược, chữa ho, bổ tinh khí, chữa đau lưng, bổ thận.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g dùng dạng rượu thuốc.

Chú ư: Ở Việt Nam có sử dụng con sâu sống trong thân cây Chít (Thysanoloena maxima O. Kuntze), họ Lúa (Poaceae) với tên Đông trùng hạ thảo.

 

ĐƯƠNG QUY

Tên khoa học: Angelica sinensis (Oliv.) Diels, họ Cần (Apiaceae).

Bộ phận dùng: Rễ đă phơi hay sấy khô (Radix Angelicae sinensis). Đương quy được phân thành nhiều loại, phần đầu của rễ chính được gọi là quy đầu có đầu tù và tṛn, quy thân là rễ đă loại bỏ phần đầu và đuôi, quy vĩ là rễ phụ và rễ nhánh.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, coumarin, acid hữu cơ, acid amin, sterol...

Công dụng: Chữa các chứng đau đầu, đau lưng do thiếu máu, điều hoà kinh nguyệt. Làm thuốc giảm đau, chống co giật, làm ra mồ hôi, kích thích ăn ngon cơm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 10-20g dạng thuốc sắc.

Chú ư: Dược điển Việt nam quy định loài Angelica acutiloba (Sieb. et Zucc.) Kitagawa là Đương qui di thực.

 

 GẤC

Tên khoa học: Momordica cochinchinensis (Lour) Spreng, họ Bí (Cucurbitaceae). Cây mọc hoang và được trồng nhiều nơi ở nước ta.

Bộ phận dùng: Màng hạt, nhân hạt (Mộc miết tử - Semen Momordicae), rễ (Pḥng kỷ nam), dầu. Thu quả chín, lấy hạt c̣n màng màu đỏ, phơi hoặc sấy nhẹ đến se màng, tách riêng màng để chiết dầu.

Thành phần hoá học chính: Màng hạt gấc có dầu chứa b-caroten, nhân hạt gấc có men phosphatase, peroxydase.

Công dụng: - Dầu Gấc dùng bôi lên các vết thương cho chóng lên da non.

- Nhân hạt gấc dùng ngoài có tác dụng tiêu sưng, chữa mụn nhọt, ghẻ lở, chữa trĩ, chữa sốt rét có báng, dùng nhân hạt gấc giă với rượu đắp chữa ung nhọt, sưng vú, tràng nhạc.

-Rễ gấc có tác dụng lợi tiểu, chữa tê thấp.

Cách dùng, liều lượng:  Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hay kết hợp với các vị thuốc khác.

  Chuyển lên đầu trang

 

GỐI HẠC

Tên khác: Đơn gối hạc, Cây mũn.

Tên khoa học: Leea rubra Blume, họ Gối hạc (Leeaceae), cây mọc hoang ở nhiều vùng núi nước ta.

Bộ phận dùng: Rễ.

Công dụng: Chữa tê thấp, đau nhức khớp xương, đau bụng rong kinh, yếu mệt sau khi đẻ.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 10-16g dạng thuốc sắc, thuốc bột hoặc ngâm rượu uống, thường sử dụng trong các bài thuốc, phối hợp với các vị thuốc khác.

 

 GỪNG

Tên khoa học: Zingiber officinale Rose, họ Gừng (Zingiberaceae). Là cây trồng lâu đời ở nước ta.

Bộ phận dùng: Thân rễ. Gừng tươi được gọi là Sinh khương (Rhizoma Zingiberis Recens). Gừng khô gọi là Can khương (Rhizoma Zingiberis Praeparata).

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, tinh bột.

Công dụng: Gừng tươi chữa cảm lạnh, nhức đầu, ngạt mũi, ho có đờm, nôn mửa, bụng đầy trướng, làm gia vị, làm mứt, cất tinh dầu làm thuốc. Gừng khô chữa đau bụng lạnh, ăn kém tiêu, tiêu chảy, ho suyễn và thấp khớp...

Cách dùng, liều lượng: Ngày 2-10g, sắc hoặc hoàn tán, thường phối hợp với các vị thuốc khác. Có nhiều giống Gừng khác nhau, giống có thân rễ to gọi là “Gừng trâu” chủ yếu trồng để làm mứt, giống có thân rễ nhỏ gọi là “Gừng gié” có vị cay hơn thường dùng làm thuốc.

 

HẠ KHÔ THẢO

Spica Prunellae

Nguồn gốc: Cụm quả đă phơi hay sấy khô của cây Hạ khô thảo  (Prunella  vulgaris L.), họ Bạc hà (Lamiaceae). Cây mọc ở những vùng núi cao của nước ta. Dược liệu phải nhập một phần từ Trung Quốc.  

Thành phần hoá học chính: Alcaloid, saponin.

Công dụng: Chữa sưng vú, lao hạch, bướu cổ, đau mắt, viêm tử cung, viêm gan, cao huyết áp, ngứa, hắc lào, vẩy nến.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 8-16g dạng thuốc sắc, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Ghi chú: Hạ khô thảo nam là cành mang lá, hoa của cây cải trời (Blumea subcapitata DC.), họ Cúc (Asteraceae).

 

HÀ THỦ Ô ĐỎ

Radix Fallopiae multiflorae

Nguồn gốc: Rễ đă phơi khô của cây Hà thủ ô đỏ, c̣n gọi là Dạ giao đằng (Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson = Polygonum multiflorum Thunb.), họ Rau răm (Polygonaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta.

Thành phần hoá học chính: Anthranoid, tanin, lecithin.

Công dụng: Bổ máu, trị thần kinh suy nhược, ngủ kém, sốt rét kinh niên, thiếu máu, đau lưng, mỏi gối, di mộng tinh, bạch đới, đại tiểu tiện ra máu, sớm bạc tóc, mẩn ngứa.

Cách dùng, liều lượng: 12-20g một ngày, dạng thuốc sắc, thuốc bột, rượu bổ. Trước khi dùng phải chế biến, phụ liệu chính để chế biến Hà thủ ô đỏ là đậu đen.

 Chuyển lên đầu trang

 

HÀ THỦ Ô TRẮNG

Tên khác: Dây sữa ḅ, cây sừng ḅ.

Tên khoa học: Streptocaulon juventas (Lour.) Merr., họ Thiên lư (Asclepiadaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Rễ, lá.

Thành phần hoá học chính: Glycosid tim, alcaloid, các hợp chất flavonoid, tinh bột.

Công dụng: Rễ làm thuốc bổ máu, bổ gan thận, dùng sống làm thuốc thanh nhiệt, giải độc, chữa cảm sốt. Lá sắc uống chữa tiểu rắt, tiểu buốt, đun nước tắm, rửa chữa lở ngứa.

Cách dùng, liều lượng: Mỗi ngày 12-20g dạng nước sắc.

Chú ư: Một số cây dễ nhầm với Hà thủ ô trắng: Dây càng cua (Cryptolepis buchanani Roem. et Schult, họ Thiên lư (Asclepiadaceae), Cây Mác chim (Amalocalyx microlobus Pierre ex Spire), họ Trúc đào (Apocynaceae).

 

HẢI LONG

Nguồn gốc: Toàn thân bỏ ruột phơi khô của một số loài Hải long (Syngnathoides biaculeatus Bloch, Syngnathus acus L., Solenograthus hardwichii Gray.), họ Hải long (Syngnathidae). Một số địa phương vùng biển miền Trung nước ta có khai thác các loài Hải long làm thuốc.

Thành phần hoá học: Protid, lipid.

Công dụng: Thuốc bổ, kích thích sinh dục, chữa liệt dương, phụ nữ khó mang thai, đau lưng mỏi gối, báng bụng. Dùng ngoài chữa đinh độc, u nhọt.

Cách dùng, liều lượng: 4-10g một ngày. Dạng thuốc sắc, bột, ngâm rượu, thuốc hoàn.

 

 

HẢI SÂM

Tên khác: Dưa biển, Sâm biển, Đỉa biển.

Tên khoa học: Holothuria spp., họ Hải sâm (Holothuriae). Hải sâm là động vật không xương sống, sống ở biển. Có nhiều loài Hải sâm khác nhau, hai loài phổ biến thường dùng là Hải sâm đen (Holothuria vagabunda) có thân màu đen và Hải sâm trắng (Holothuria scabra) có lưng xám, bụng trắng.

Bộ phận dùng: Toàn con, bỏ ruột rửa sạch, phơi sấy khô.

Thành phần hoá học chính: Protid, lipid, vitamin.

Công dụng: Là thực phẩm cao cấp giàu dinh dưỡng, chữa lao phổi, gan thận yếu, có tác dụng làm giảm huyết áp. Holothurin và một số chất chiết từ Hải sâm có tác dụng ức chế sự phân chia tế bào, được sử dụng để ngừa ung thư.

Cách dùng, liều lượng: Ngày có thể dùng tới 50g dưới dạng các món ăn. Hải sâm được thuỷ phân bằng men, kết hợp với các vitamin, tạo chế phẩm dạng viên nang AMOPVITA - Hải sâm.

 

HẮC CHI MA

Semen Sesami

Tên khác: Hạt vừng đen, Mè, Hồ ma.

Nguồn gốc: Hạt già phơi khô của cây Vừng (Sesamum indicum DC. = Sesamum orientale L.), họ Vừng (Pedaliaceae). Cây được trồng ở nhiều địa phương để lấy hạt làm thực phẩm.

Thành phần hoá học chính: Dầu béo (50%), carbohydrat, protein (20%).

Công dụng: Chữa suy nhược cơ thể, nhuận tràng, chữa táo bón kéo dài. Làm thuốc bổ thận, bổ khí huyết, chữa can thận yếu, váng đầu hoa mắt, tê bại chân tay. Hạt vừng được sử dụng nhiều trong các chế độ ăn kiêng cho người lớn tuổi.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-12g, dạng thuốc sắc, hoàn, tán, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

  Chuyển lên đầu trang

 

HÀNH

Bulbus Allii fistulosi

Tên khác: Thông bạch

Tên khoa học: Alium fistulosum L., họ Hành (Liliaceae). Cây được trồng khắp nơi làm gia vị và làm thuốc.

Bộ phận dùng: Củ (ḍ), lá.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, acid hữu cơ.

Công dụng: Chữa các triệu chứng lạnh chân tay, mệt mỏi, chóng mặt, hoa mắt, chữa quai bị, làm àm thuốc ra mồ hôi, lợi tiểu, làm thuốc sát trùng, chữa đau răng, chữa tê thấp, chữa cảm mạo, nhức đầu...

Cách dùng, liều lượng: Mỗi lần có thể dùng 30-60g dùng dạng nước sắc hay ép lấy nước uống.

 Chuyển lên đầu trang

HẬU PHÁC

Cortex Cinnamomi

Nguồn gốc: Dược liệu là vỏ đă phơi khô của Cây chành chành (Cinnamomum liangii Allen.) hoặc Cây de (Cinnamomum sp.) họ Long năo (Lauraceae). Cây mọc hoang ở các vùng núi nước ta.

Bộ phận dùng: Vỏ rễ và vỏ thân.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu.

Công dụng: Chữa đầy bụng, ăn không tiêu, nôn mửa, tả, lỵ, đau dạ dày, viêm đại tràng măn.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-20g dạng thuốc sắc. Phụ nữ có thai không được dùng.

Ghi chú: Hậu phác nam c̣n là vỏ của cây Vối rừng (Eugenia jambonala Lamk.), mọc hoang ở vùng núi nước ta.

Hậu phác bắc (Cortex Magnolia officinalis) là vỏ cây Magnolia officinalis var. biloba Red. et Wils., họ Ngọc lan.

 

HỒ ĐÀO

Semen Juglandis.

Tên khác: Hạt óc chó, Hạnh đào, Lạc tây.

Nguồn gốc: Hạt già phơi khô của cây Hồ đào (Juglans regia L.), họ Hồ đào (Judlandaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở một số tỉnh phía Bắc nước ta.

Thành phần hoá học chính: Dầu béo, protein.

Công dụng: Làm thuốc bồi dưỡng cơ thể. Chữa ho, trừ đờm, dùng cho người lao lực sinh ho, hen, suyễn, lưng đau mỏi, chân yếu, làm đen tóc, lợi tiểu tiện, chữa trĩ.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-30g, dạng thuốc sắc.

Ghi chú: Lá và vỏ quả Hồ đào có tác dụng hồi phục chức năng và sát trùng, được dùng để trị herpes, eczema, lao hạch.

 

 HOÀNG BÁ

Cortex Phellodendri

Nguồn gốc: Vỏ thân, vỏ cành già đă cạo bỏ lớp bần, phơi khô của cây Hoàng bá (Phellodendron chinense Schneid.), họ Cam (Rutaceae). Cây được trồng ở một số địa phương nước ta. Dược liệu chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid, chủ yếu là berberin, palmatin, phellodendrin...

Công dụng: Chữa viêm màng năo, viêm phổi, viêm tai giữa có mủ, viêm xoang hàm mạn tính. Chữa viêm âm đạo do trùng roi, phụ nữ khí hư, kiết lỵ, tiêu chảy. Chữa di tinh, tiểu đục. Chữa viêm gan cấp tính, sốt, bụng trướng, đau vùng gan, tiểu tiện đỏ. Chữa cao huyết áp, suy nhược tâm thần.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-16g, dạng thuốc sắc, rượu thuốc.

 

HOÀNG BÁ NAM

Cortex Oroxyli

Tên khác: Vỏ Núc nác.

Nguồn gốc: Vị thuốc là vỏ thân đă phơi hay sấy khô của cây Núc nác (Oroxylon indicum Vent.), họ Chùm ớt (Bignoniaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi khắp nước ta.

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, alcaloid.

Công dụng: Chữa vàng da, mẩn ngứa, ban sởi, viêm họng, ho, đau dạ dày. Trong dân gian dùng Hoàng bá nam (Cortex Oroxyli) thay thế vị thuốc Hoàng bá (Cortex Phellodendri).

Cách dùng, liều lượng: Ngày 8-16g, dạng thuốc sắc, hoàn tán, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Ghi chú: Hạt Núc nác cũng là vị thuốc, có tên là Mộc hồ điệp, có tác dụng chữa ho lâu ngày, viêm khí quản, đau dạ dày.

Chuyển lên đầu trang

HOÀNG CẦM

Cortex Scutellariae

Nguồn gốc: Dược liệu là rễ khô của cây Hoàng cầm (Scutellaria baicalensis Georg. = Scutellaria macrantha Fisch.); Scutellaria lanceolaria Miq., họ Bạc hà (Lamiaceae). Nước ta có trồng cây này, dược liệu phải nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Các flavonoid (baicalin, scutellarin), tinh dầu.

Công dụng: Chữa hen phế quản, chữa sốt, chữa viêm loét dạ dày tá tràng và viêm ruột cấp tính. Chữa viêm gan virus cấp và viêm gan virus mạn tính, chữa viêm cầu thận cấp tính, chữa chứng mất ngủ, nhức đầu của bệnh cao huyết áp.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 4-16g, dạng thuốc sắc, dạng cồn thuốc hoặc bột.

 

HOÀNG ĐẰNG

Radix et Caulis Fibraurea

Tên khác: Hoàng liên đằng, Dây vàng giang.

Nguồn gốc: Vị thuốc là thân già và rễ phơi khô của cây Hoàng đằng (Fibraurea recisa Pierre hay F. tinctoria Lour.), họ Tiết dê (Menispermaceae). Cây mọc hoang nhiều ở các vùng rừng, núi phía Bắc nước ta.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid, chủ yếu là palmatin

Công dụng: Làm giảm viêm, chữa viêm ruột, viêm bàng quang, viêm gan, đau mắt, mụn nhọt, sốt nóng, kiết lỵ, hồi hộp, mất ngủ. Làm nguyên liệu chiết palmatin.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g, dạng thuốc sắc.

Chú ư: Một số tỉnh miền núi phía nam các lương y sử dụng thân cây Cyclea bicristata (Girff.) Diels., họ Tiết dê với tên gọi Hoàng đằng hay Hoàng đằng lá to với công dụng tương tự Hoàng đằng.

 

HOÀNG KỲ

Radix Astragali

Nguồn gốc: Vị thuốc là rễ đă phơi hay sấy khô của cây Hoàng kỳ (Astragalus membranaceus Bge.) hoặc Hoàng kỳ Mông cổ (Astragalus mongholicus Bge), họ Đậu (Fabaceae). Vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, Coumarin.

Công dụng: Chữa tiểu đường, tiểu đục, tiểu buốt, lở loét, phù thũng, phong thấp, cơ thể suy nhược, mụn nhọt, vết thương khó lên da non .

Cách dùng, liều lượng: 6-12g một ngày, có thể tới 40-80g, dạng thuốc sắc hoặc thuốc cao.

Ghi chú: Hoàng kỳ nam là rễ Cây vú chó (Ficus heterophyllus L.), họ Dâu tằm (Moraceae) cần chú ư phân biệt.

 

HOÀNG LIÊN

Rhizoma Coptidis

Nguồn gốc: Thân rễ đă phơi hay sấy khô của cây Hoàng liên chân gà (Coptis teeta Wall.) và một số loài Hoàng liên khác (Coptis teetoides C.Y.Cheng., Coptis chinensis Fronclo.), họ Hoàng liên (Ranunculaceae). Vùng núi cao nước ta có một số loài Hoàng liên. Vị thuốc chủ yếu c̣n phải nhập.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid, chủ yếu là berberin, palmatin, columbamin...

Công dụng: Hoàng liên là thuốc bổ đắng, chữa tiêu hoá kém, viêm loét dạ dày. Chữa lỵ, viêm ruột, ung nhọt, lở ngứa, miệng lưỡi lở, thổ huyết, chảy máu cam, trĩ. Dịch chiết Hoàng liên nhỏ vào mắt chữa đau mắt đỏ.

Cách dùng, liều lượng: 2-12g một ngày, dạng thuốc sắc, cao lỏng, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Ghi chú: Xem thêm các loài Hoàng liên khác.

Chuyển lên đầu trang

 

HOÀNG LIÊN GAI

Tên khác: Hoàng mộc.

Tên khoa học: Berberis wallichiana DC., họ Hoàng liên gai (Berberidaceae). Cây mọc hoang, trồng ở nhiều vùng núi cao.

Bộ phận dùng: Rễ, thân cắt ngắn, phơi sấy khô.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid, chủ yếu là berberin, palmatin, columbamin...

Công dụng: Hoàng liên gai là thuốc bổ đắng, chữa tiêu hoá kém, viêm loét dạ dày. Chữa lỵ, viêm ruột, ung nhọt, lở ngứa, miệng lưỡi lở, chảy máu cam, trĩ. Rễ ngâm rượu uống để làm thuốc bổ chữa lưng gối yếu mỏi, chữa các triệu chứng của huyết áp cao như hoa mắt, nhức đầu, chóng mặt, dùng thay Hoàng liên, Hoàng bá.

Cách dùng, liều lượng: 2-12g một ngày, dạng thuốc sắc, cao lỏng, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

 

HOÀNG LIÊN Ô RÔ

Tên khác: Thập đại công lao, Cây Mă hồ, Cây Mật gấu.

Tên khoa học: Mahonia nepalensis DC., Mahonia bealei (Fort.) Carr., Mahonia japonica (Thunb.) DC., họ Hoàng liên gai (Berberidaceae). Cây mọc hoang ở vùng núi cao lạnh, ở nước ta như Lâm Đồng, Lào Cai.

Bộ phận dùng: Lá, thân, rễ và quả (Folium, Caulis, Radix et Fruictus Mahoniae).

Thành phần hoá học chính: Thân, lá chứa Berberin, trong rễ và cây chứa alcaloid umbellatin và nephrotin.

Công dụng: Chữa ho lao, sốt cơn, khạc ra máu, lưng gối yếu mỏi, chóng mặt ù tai, mất ngủ. Chữa lỵ, ăn uống không tiêu, vàng da, đau mắt.

Cách dùng, liều lượng: Dùng lá khô hay quả 8-12g sắc uống hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

HOÀNG NÀN

Cortex Strichi wallichianae

Tên khác: Vỏ doăn.

Nguồn gốc: Vỏ thân, vỏ cành phơi hay sấy khô của cây Hoàng nàn (Strychnos wallichiana Steud. ex DC.), họ Mă tiền (Loganiaceae).

Thành phần hoá học chính: Alcaloid trong đó chủ yếu là strychnin và brucin.

Công dụng: Chữa phong thấp, chữa bệnh ngoài da, lở, ngứa.

Cách dùng, liều lượng: Liều uống tối đa một lần 0,1g, liều trong 24giờ 0,4g. Không dùng quá liều. Thuốc độc bảng A. Hoàng nàn c̣n dùng để chiết strychnin.

Chú ư: Hạt của cây Hoàng nàn cũng được dùng với tên gọi hạt Mă tiền.

 

HOÀNG TINH

Rhizoma Polygonati

Tên khác: Củ cây cơm nếp.          

Nguồn gốc: Dược liệu là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Hoàng tinh (Polygonatum kingianum Coll et Hemsl., Polygonatum sibiricum Red., Polygonatum multiflorum L. ...), họ Thiên môn (Asparagaceae). Cây mọc hoang ở những nơi rừng ẩm ở các tỉnh miền Bắc.       

 Thành phần hoá học: Chất nhầy, tinh bột, đường.

 Công dụng: Chữa ho lâu ngày, ho khan, làm mạnh gân cốt.

 Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 12-16g, dạng thuốc sắc, thuốc bột, dùng riêng hay phối hợp với các thuốc khác.

Chú ư: Củ Hoàng tinh hay Củ dong thường bán ở chợ là thân rễ cây Maranta arundinacea L. chỉ dùng làm thực phẩm hay làm tá dược, không làm thuốc.      

 

HOẠT THẠCH

Talcum

Tên khác: Hoạt thạch phấn.

Nguồn gốc: Vị thuốc là khoáng chất có thành phần chủ yếu là magnesi silicat có ít sắt oxyt và nhôm oxyt. Quặng này có ở nhiều địa phương vùng núi nước ta.

Thành phần hoá học chính: Magnesi silicat.

Công dụng: Dùng trong Đông y chữa sốt, lợi tiểu, chữa bệnh khát. Trong Dược học hiện đại dùng bột talcum làm phấn rôm, bao thuốc viên, phấn bôi mặt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-15g, dạng thuốc sắc hoặc bột. Thuốc viên 1-2g.

 

  

HOẮC HƯƠNG

Folium Pogostemi

Nguồn gốc : Lá phơi hay sấy khô của cây Hoắc hương (Pogostemon cablin (Blanco) Berrth.), họ Bạc hà (Lamiaceae). Cây được trồng ở nhiều địa phương nước ta.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu (ít nhất 1,2%).

Công dụng: Chữa cảm mạo, nhức đầu, đau ḿnh mẩy, sổ mũi, đau bụng tiêu chảy, ăn uống không tiêu.

Cất tinh dầu: Tinh dầu hoắc hương là hương liệu quư.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc hăm hay bột.

Chú ư: Một số tỉnh (Nghệ An, Sơn La, Lào Cai...) có loài Hoắc hương núi (Agastache rugosus (Fisch. et Mey.) O. Ktze = Lophanthus rugosus Fisch. et Mey.) Phần trên mặt đất (Herba Agastachis) dùng để chữa đau bụng, nôn mửa, chữa đi ngoài, ăn không tiêu, nhức đầu, cảm sốt...

 

HOÈ

Tên khoa học: Styphnolobium japonicum (L.) Schott = Sophora japonica L., họ Đậu (Fabaceae). Cây được trồng ở nhiều địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Nụ hoa chưa nở phơi hay sấy khô (Hoè hoa - Flos Styphnolobii japonici = Flos Sophorae japonicae = Flos Sophorae Immaturus)

- Quả hoè (Hoè giác - Fructus Styphnolobii japonici).

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, chủ yếu là rutin.

Công dụng, cách dùng: Nụ hoa hoè sao đen chữa xuất huyết, chảy máu cam, ho ra máu, băng huyết. Nụ hoa sống chữa cao huyết áp, đau mắt. Ngày 8-16g dạng thuốc hăm hoặc sắc. Chiết xuất rutin, bào chế theo y học hiện đại

Chú ư: Quả hoè có công dụng gần như hoa nhưng có thể gây sẩy thai.

 

HỒ TIÊU

Fructus Piperis nigri

Tên khác: Hạt tiêu, Hắc hồ tiêu.

Nguồn gốc: Quả chưa chín hẳn đă phơi khô của cây Hồ tiêu (Piper nigrum L.), họ Hồ tiêu (Piperaceae).

Thành phần hoá học chính:

Tinh dầu (1,2-3,5%), alcaloid (2-5%).

Công dụng: Chữa đau bụng lạnh, kích thích tiêu hoá. Làm gia vị thực phẩm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 2-4g, dạng thuốc sắc, bột hay viên.

Chú ư: Quả chín phơi khô, xát bỏ vỏ ngoài của cây Hồ tiêu gọi là Bạch hồ tiêu (Fructus Piperis album). Cây Tất bát (Piper longum L.) c̣n gọi là cây Tiêu lốt, Tiêu hoa tím, có quả (Fructus Piperis longi) dùng chữa đau bụng, môn mửa, nhức đầu, chảy nước mũi.

 

HỒNG HOA

Flos Carthami

Tên khác: Hồng lam hoa.

Nguồn gốc: Hoa đă phơi hoặc sấy khô của cây Hồng hoa (Carthamus tinctorius L.), họ Cúc (Asteraceae). Dược liệu nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, các sắc tố màu vàng, polysaccharid.

Công dụng: Chữa kinh nguyệt không đều, viêm buồng trứng, ứ huyết, chấn thương tụ máu. Chữa đại tiểu tiện không thông ở phụ nữ đẻ. Chữa xuất huyết năo do xơ cứng mạch máu năo. Dùng làm thuốc nhuộm thực phẩm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 3-8g. Dạng thuốc sắc hay ngâm rượu, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Phụ nữ có thai và đang hành kinh không dùng.

 

 

HÚNG CHANH

Tên khác: Dương tử tô, Rau thơm lông.

Tên khoa học: Coleus aromaticus Benth. = Coleus amboinicus Lour., họ Bạc hà (Lamiaceae). Cây được trồng làm thuốc và làm rau ăn.

Bộ phận dùng: Lá tươi (Folium Colei) hoặc dùng phần trên mặt đất cất lấy tinh dầu.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, trong đó thành phần chủ yếu là carvacrol.

Công dụng: Chữa cảm cúm, cảm sốt, chữa ho, viêm họng, khản tiếng, chữa thổ huyết, chảy máu cam. Dùng ngoài giă đắp lên những vết do rết và bọ cạp cắn.

Cách dùng, liều lượng: 10-16g lá tươi một ngày. Dạng thuốc sắc, xông, dầu xoa hoặc vắt lấy nước uống.

 

HÚNG QUẾ

Tên khác: Húng dổi, Rau quế, É quế, Húng chó.

Tên khoa học: Ocimum basilicum L. var. basilicum, họ Bạc hà (Lamiaceae). Cây được trồng làm gia vị và làm nguyên liệu cất tinh dầu ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Lá, cành thu hái vào thời gian mang hoa (Herba Ocimi Basilicum).

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu thành phần chủ yếu là methylchavicol.

Công dụng: Làm thuốc chữa ho, chữa mày đay, dị ứng, làm gia vị, làm nguyên liệu cất tinh dầu.

Cách dùng, liều lượng:

Cành, lá sắc uống làm thuốc chữa sốt, làm ra mồ hôi, chữa đau dạ dày, ăn uống không tiêu. Mỗi ngày uống 10-15g dưới dạng thuốc sắc. 

 

 HÙNG HOÀNG

Arsenicum sulfuratum realgar

Tên khác: Thạch hoàng, Hùng tín, Hoàng kim thạch, Hùng hoàng (realgar), Thư hoàng (Orpiment, Auripigment).

Nguồn gốc: Muối khoáng thiên nhiên có thành phần chủ yếu là asen sulfur (As2S), asen disulfur (As2S2).

Công dụng: Dùng ngoài chữa mụn nhọt, ghẻ lở, chữa ung loét tử cung, trị rắn cắn, trúng độc. Dùng trong công nghiệp sản xuất pháo hoa.

Cách dùng, liều lượng: Dùng riêng dạng mỡ, cao dán bôi lên vết thương, hoặc kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Hùng hoàng rất độc, khi dùng phải cẩn thận.

 

HUYỀN HỒ

Rhizoma Corydalis

Nguồn gốc: Thân rễ đă phơi khô của cây Diên hồ sách, c̣n gọi là Huyền hồ (Corydalis bulbosa DC. = Corydalis yanhusuo W. T. Wang), họ Thuốc phiện (Papaveraceae). Vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid.

Công dụng: Huyền hồ có tác dụng giảm đau và an thần, dùng để chữa thấp khớp, chữa đau do huyết ứ, chấn thương tụ máu, bế kinh, sản hậu ứ huyết thành ḥn cục. Sử dụng trong các bài thuốc chữa u xơ tuyến vú.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 4-10g, dạng thuốc sắc, hoàn, tán, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Không dùng cho phụ nữ có thai. 

 

HUYỀN SÂM

Radix Scrophulariae

Tên khác: Hắc sâm, Nguyên sâm, Giác sâm.

Nguồn gốc: Rễ đă phơi hay sấy khô của cây Huyền sâm (Scrophularia buergeriana Miq. Scrophularia ningpoensis Hemsl.), họ Hoa mơm chó (Scrophulariaceae). Cây được trồng và mọc hoang ở các tỉnh vùng cao nước ta. Dược liệu chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Các dẫn chất iridoid glycosid, phytosterol, alcaloid, đường, muối khoáng.

Công dụng: Chữa huyết áp cao, nhức đầu, chóng mặt, ù tai, chữa viêm tắc mạch máu ở chân, tay. Chữa kinh nguyệt không đều. Giảm sốt, chữa viêm họng, lở loét trong miệng, miệng lưỡi khô, giải độc, chữa mụn nhọt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-12g, dạng thuốc sắc.

 

 

HUYẾT DỤ

Folium Cordyline

Nguồn gốc: Lá tươi của cây Huyết dụ (Cordyline terminalis Kunth var. ferrea Bak. = Cordyline ferrea C. Koch), họ Huyết giác (Dracaenaceae). Cây được trồng làm cảnh và làm thuốc ở nhiều nơi trong nước ta.

Thành phần hoá học chính: Flavonoid.

Công dụng: Làm thuốc cầm máu, chữa rong kinh, rong huyết, băng huyết, tiểu ra máu, chữa lỵ. Chữa xuất huyết dưới da, sốt xuất huyết.

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống nước sắc từ 20-40g lá tươi, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Ghi chú: Có hai loài Huyết dụ loài lá đỏ hai mặt và loài lá một mặt đỏ, một mặt xanh. Cả hai thứ đều dùng được nhưng người ta thường dùng loài lá đỏ hai mặt hơn.

 Chuyển lên đầu trang

 

 

HUYẾT GIÁC

Lignum Dracaenae cambodianae

Nguồn gốc: Dược liệu là chất gỗ màu đỏ được tạo ra trên gỗ già, mục của cây Huyết giác (Dracaena cambodiana Pierre ex Gagnep), họ Huyết giác (Dracaenaceae). Cây mọc hoang nhiều trên các vùng núi đá.

 Thành phần hoá học chính: Chất mầu đỏ tan trong cồn, aceton, không tan trong ether, chloroform, benzen, thành phần chính là dracoresinotanol.

Công dụng: Làm thuốc bổ máu, chữa chấn thương tụ máu, chân tay đau nhức, bế kinh, thống kinh.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 10-20g. Dạng thuốc sắc, ngâm rượu để uống hay xoa bóp.

 

HUYẾT KIỆT

Sanguis Draconis

Tên khác: Sang dragon.

Nguồn gốc: Dược liệu là nhựa khô lấy từ quả của cây Calamus draco Willd., họ Dừa (Palmaceae). Cây mọc hoang tại các đảo ở Indonexia, vị thuốc phải nhập.

Thành phần hoá học chính: Chất màu, chất nhựa, Ete benzoic và benzoylacetic của dracoresitanola, acid benzoic tự do và tinh dầu.

Công dụng, cách dùng: Chữa vết thương chảy máu: Huyết kiệt tán thành bột, rắc vào. Chảy máu cam: Huyết kiệt, Bồ hoàng hai vị bằng nhau, tán nhỏ, thổi vào mũi.

 

 

HƯƠNG NHU TÍA

Tên khoa học: Ocimum sanctum L., họ Bạc hà (Lamiaceae). Cây mọc hoang và được trồng trong vườn ở khắp nước ta.

Bộ phận dùng: Thân, cành mang lá, hoa (Herba Ocimi sancti) phơi sấy khô hay dùng tươi.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu (ít nhất 0,5%) thành phần chính là eugenol.

Công dụng: Chữa cảm nắng, nhức đầu, đau bụng, đi ngoài, nôn mửa, chuột rút, cước khí, thuỷ thũng. Eugenol từ tinh dầu Hương nhu tía được dùng trong nha khoa và là nguyên liệu để tổng hợp vanilin.

Cách dùng, liều lượng: Dùng phối hợp trong nồi lá xông (50-100g tươi). Dùng cành lá sắc uống mỗi ngày 6-12g.

Chú ư: Dược điển Việt Nam III quy định Hương nhu tía (Herba Ocimi tenuiflori) là cành mang hoa của cây Hương nhu tía (Ocimum tenuiflorum L.).

 

HƯƠNG NHU TRẮNG

Herba Ocimi gratissimi

Nguồn gốc: Phần trên mặt đất của cây Hương nhu trắng (Ocimum gratissimum L.), họ Bạc hà (Lamiaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu chủ yếu là eugenol.

Công dụng: Công dụng như Hương nhu tía nhưng ít dùng hơn. Do có hàm lượng tinh dầu cao và có khả năng thích nghi với nhiều vùng khí hậu, trên các loại đất Hương nhu trắng được trồng trọt chủ yếu làm nguyên liệu cất tinh dầu.

Tinh dầu dùng để điều chế eugenol dùng trong tân dược và một số ngành kỹ nghệ khác.

Cách dùng, liều lượng: 6-12g một ngày. Dạng thuốc hăm, thuốc sắc, thuốc xông hoặc rịt lên đầu.

 

HƯƠNG PHỤ

Rhizoma Cyperi

Tên khác: Cỏ gấu, Cỏ cú.

Nguồn gốc: Thân rễ phơi khô của cây Hương phụ vườn (Cyperus rotundus L.) hay Hương phụ biển (Cyperus stoloniferus Retz.), họ Cói (Cyperaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi ở nước ta và nhiều nước khác. Hương phụ biển cung cấp lượng dược liệu chủ yếu trên thị trường, Hương phụ vườn khó thu hái, ít dùng hơn.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, alcaloid, saponin, flavonoid.

Công dụng: Chữa kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng, viêm tử cung măn tính, đau dạ dày, ăn uống kém tiêu.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g dạng thuốc sắc, bột, viên, cao hay rượu thuốc. Dùng riêng hay phối hợp trong các phương thuốc phụ khoa, đau dạ dày.

 

HƯƠU, NAI

Tên khoa học: Cervus nippon Temminck - Con hươu, Cervus unicolor Cuv. - Con nai, họ Hươu (Cervidae). Hươu nai được nuôi nhiều ở nhiều địa phương miền núi nước ta.

Bộ phận dùng: Sừng và sản phẩm khác nhau từ Hươu, Nai: Cornu Cervi - sừng già từ Hươu Nai, Lộc giác (gạc); Cornu Cervi pantotrichum - sừng non của con Hươu Nai, Lộc nhung (Mê nhung); Colla Cornu Cervi - Cao nấu từ gạc, Lộc giác giao, Cao ban long; Cornu Cervi degelatinatum - Bă sau khi nấu cao.

Thành phần hoá học: Calci phosphat, calci carbonat, protid, chất keo, chất nội tiết kích thích sinh trưởng-pantocrin...

Công dụng: Thuốc bổ, chữa mệt mỏi, huyết áp thấp...

Cách dùng, liều lượng: - Lộc nhung ngày 4 -12g, làm thành bột uống với nước hay nước gừng chữa đau lưng mỏi gối, váng đầu, ù tai, mờ mắt, chữa lở loét, sưng đau do ứ huyết, nhọt độc.

- Lộc giác đốt thành than hoà dấm bôi vào nhọt độc sau lưng, ở vú và các nơi khác. Lộc giác đốt tồn tính, tán bột uống chữa gân xương đau nhức.

- Cao ban long: Là dạng dùng phổ biến, dùng trong trường hợp thiếu máu, chảy máu, rong kinh, ho, nôn ra máu... Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 0,3-1g, có thể dùng cao ngâm rượu.

Chú ư: Nhiều bộ phận khác của Hươu, Nai cũng được dùng làm thuốc:

- Hươu bao tử, Lộc thai (Embryo Cervi) sấy khô tán bột hoặc ngâm rượu làm thuốc bổ.

- Lộc cân (Ligamentum Cervi) - Gân ở chân con Hươu, Nai bổ gân xương, giúp cho các chỗ gẫy, đứt chóng lành.

- Lộc vĩ (Cauda Cervi) - đuôi Hươu, Nai sấy khô tán bột hoặc ngâm rượu làm thuốc bổ.

- Lộc huyết (Sanguis Cervi) - Huyết Hươu, Nai phơi khô chữa bệnh liệt dương, trừ độc của thuốc hay thức ăn...

 

HY THIÊM

Tên khác: Cỏ đĩ, Cây cứt lợn, Hy tiên.

Tên khoa học: Siegesbeckia orientalis L., họ Cúc (Asteraceae). Cây mọc hoang nhiều nơi ở nước ta.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Siegesbeckiae).

Thành phần hoá học: Alcaloid, một chất đắng có tên là darutin, flavonoid.

Công dụng: Trị đau nhức do phong thấp, đau lưng, mỏi gối, ù tai, hoa mắt chóng mặt, di mộng tinh, liệt dương, khí hư bạch đới, tiểu đêm nhiều lần, chữa mụn nhọt, lở ngứa.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 8-16g, dạng thuốc sắc hoặc cao. Chú ư: Tránh nhầm lẫn với

 

 

ÍCH MẪU

Herba Leonuri japonici

Nguồn gốc: Phần trên mặt đất có nhiều lá, hoa, phơi hay sấy khô của cây Ích mẫu (Leonurus japonicus Houtt.), họ Bạc hà (Lamiaceae). Cây mọc hoang, được trồng ở nhiều địa phương nước ta và nhiều nước khác trên thế giới.

Thành phần hoá học chính: alcaloid (leonurin, stachydrin), flavonoid (rutin), tanin.

Công dụng, cách dùng, liều lượng:

Ích mẫu thảo: Chữa kinh nguyệt không đều, bế kinh, rong kinh, thống kinh, ứ máu tích tụ sau khi đẻ, cao huyết áp. Ngày dùng 10-20g, dạng thuốc sắc hoặc cao thuốc, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Hạt Ích mẫu (Sung uư tử - Fructus Leonuri) làm thuốc chữa phù thũng, thiên đầu thống, thông tiểu. Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc.

 

 ÍCH TRÍ NHÂN

Fructus Alpiniae oxyphyllae

Nguồn gốc: Quả chín phơi khô của cây Ích trí (Alpinia oxyphylla Miq.), họ Gừng (Zingiberaceae). Cây mọc hoang trong các vùng rừng núi, dược liệu dùng ở nước ta chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học: Tinh dầu (0,7%) thành phần chủ yếu của tinh dầu là tecpen, saponin.

Công dụng: Chữa tiêu chảy, nôn mửa, đầy hơi, người già hay tiểu đêm, tiểu đục, di tinh.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác. 

 

 

KÉ ĐẦU NGỰA

Fructus Xanthii strumarii

Tên khác: Thương nhĩ tử, Xương nhĩ.

Nguồn gốc: Dược liệu là quả già phơi khô của cây Ké đầu ngựa (Xanthium strumarium L.), họ Cúc (Asteraceae). Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta.

Thành phần hoá học: Alcaloid, các sesquiterpen lacton, saponin, chất béo, iod.

Công dụng: Chữa mụn nhọt, mẩn ngứa, đau đầu do phong hàn, chân tay co rút, chữa mũi chảy nước, chữa đau răng, chảy máu cam. Chữa đau khớp do phong thấp. Chữa thuỷ thũng, bí tiểu tiện. Chữa bướu cổ.

Cách dùng, liều lượng: 10-16g một ngày, dạng thuốc sắc hay thuốc cao dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Ké đầu ngựa nhập từ Trung Quốc là quả của cây Xanthium sibiricum Patr.

 

KÉ HOA ĐÀO

Tên khác: Ké hoa đỏ, Hồng hài nhi, Dă mai hoa, Dă miên hoa, Dă đào hoa.

Tên khoa học: Urena lobata L., họ Bông (Malvaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi.

Bộ phận dùng: Rễ, toàn cây.

Thành phần hóa học chính: Phần trên mặt đất chứa mangiferin, hạt chứa dầu béo toàn cây chứa hợp chất phenol, acid amin, sterol.

Công dụng: Chữa phong thấp, chữa viêm nhiễm đường sinh dục nữ, chữa thủy đậu.

Cách dùng, liệu lưượng: Dùng 20-30g rễ sắc uống cùng các vị thuốc khác để chữa viêm nhiễm đường sinh dục, thấp khớp.

 

 

KÉ HOA VÀNG

Tên khác: Ké đồng tiền, Chổi đực.

Tên khoa học: Sida rhombifolia L. Syn. Sida alnifolia Lour., họ Bông (Malvaceae).

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất, rễ.

Thành phần hóa học chính: Lá chứa nhiều chất nhầy, các acid hữu cơ (acid stearic, acid palmitic, acid folic...).

Công dụng: Thường dùng chữa cảm cúm, viêm amidan, viêm ruột, vàng da, sốt rét, sỏi niệu đạo, đau dạ dày, chữa mụn nhọt, dị ứng, kiết lỵ, tiêu chảy.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 15-30g, dạng thuốc sắc. Dùng ngoài giă đắp hoặc xát lên chỗ mụn nhọt, mẩn ngứa, dị ứng.

 

 

 KÊ HUYẾT ĐẰNG

Caulis Spatholobi

Tên khác: Huyết đằng.

Nguồn gốc: Thân leo phơi hay sấy khô của cây Kê huyết đằng (Spatholobus suberectus Dunn), họ Đậu (Fabaceae). Cây này mọc nhiều ở một số tỉnh miền núi nước ta.

Thành phần hoá học chính: Tanin, flavonoid.

Công dụng: Bổ máu, chữa đau xương, đau ḿnh mẩy, chấn thương tụ máu, kinh nguyệt không đều, thống kinh.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 12-40g, thuốc sắc, rượu.

Chú ư: Thân phơi sấy khô của nhiều loài thuộc các họ khác nhau được gọi là Huyết đằng. Ví dụ: Caulis Sargentodoxae từ cây Huyết đằng (Sargentodoxa cuneata (Oliv.) Rehd et Wils.), họ Đại huyết đằng (Sargentodoxaceae). Caulis Mucunae từ Sargentodoxa cuneata (Oliv.) Rehd et Wils., Caulis Millettiae từ Millettia nitida Benth, Millettia dielsiana Harms., họ Đậu (Fabaceae)...

 

 

KEO GIẬU

Tên khác: Keo giun.

Tên khoa học: Leucaena glauca L., họ Đậu (Fabaceae). Cây mọc hoang và được trồng khắp nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Hạt (Semen Leucaenae glaucae)

Thành phần hoá học: Hạt keo giậu chứa nhiều dầu béo, chất minosin (vừa có tính chất aminoacid, vừa có tính chất alcaloid), chất nhầy, đường, protid.

Công dụng: Trị giun đũa

Cách dùng, liều lượng: Hạt khô rang cho nở, tán bột dùng hoặc thêm đường làm thành bánh. Ngày dùng 10-15g (trẻ em) hoặc 25-50g (người lớn), uống vào sáng sớm lúc đói, uống liền trong 3-5 buổi sáng.

Chú ư: Ăn nhiều hạt keo có thể bị rụng tóc.

 

KÊ CỐT THẢO

Herba Abri mollis

Nguồn gốc: Phần trên mặt đất phơi sấy khô của cây Kê cốt (Abrus mollis Hance), họ Đậu (Fabaceae). Vị thuốc nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Saponin, acid hữu cơ.

Công dụng: Chữa vàng da, viêm gan măn tính. Chữa cảm nắng, sốt nóng, ho khan.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 15-30g dưới dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay kết hợp với các vị thuốc khác.

 

  

 KÊ NỘI KIM

Endothelium Corneum Gigeriae Galli

Tên khác: Kê hoàng b́, Màng mề gà.

Nguồn gốc: Lớp màng mầu vàng phủ mặt trong của mề (dạ dày) con gà: Gallus domesticus Brisson., họ Chim trĩ (Phasianidae).

Thành phần hoá học chính: protid, vị kích tố (ventriculin).

Công dụng: Kê nội kim có tác dụng chữa viêm dạ dày, viêm ruột mạn tính. Chữa trướng bụng, dùng trong trường hợp ăn không tiêu, bụng trướng, nôn mửa, tả, lỵ, đau dạ dày, làm thuốc bổ cho trẻ con kém ăn, chậm lớn.

Cách dùng, liều lượng: Kê nội kim sao vàng, tán bột, rây mịn dùng 6-12g một ngày dạng thuốc sắc hay bột.

Nhiều bộ phận của con gà dùng làm thuốc. Ḷng đỏ trứng gà chữa xơ vữa động mạch. Ḷng trắng trứng gà bôi chữa bỏng. Máu mào gà (Kê quan huyết) chữa đinh râu hoặc nhọt ở sống lưng. Dăi gà chữa rết cắn. Gan gà (Kê can) chữa đau lưng do thận hư. Mật gà chữa ho lâu ngày...

 

KHA TỬ

Fructus Chebulae

Tên khác: Chiêu liêu.

Nguồn gốc: Quả chín sấy hay phơi khô của cây Chiêu liêu hay Kha tử (Terminalia chebula Retz.), họ Bàng (Combretaceae). Cây mọc nhiều ở các tỉnh miền Nam nước ta.

Thành phần hoá học chính: Tanin (20-40%), vỏ cây chứa acid hữu cơ, phlobaphen...

Công dụng: Chữa chữa ho, viêm họng, tiêu chảy lâu ngày, lỵ kinh niên, mồ hôi trộm.

Vỏ thân cây Chiêu liêu để chiết xuất Tanin dùng trong kỹ nghệ thuộc da.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 3-6g dưới dạng thuốc sắc, thuốc viên hoặc ngậm mảnh vỏ chữa viêm họng.

Chú ư: Có nhiều loài thuộc chi Terminalia trong số đó loài Terminalia nigrovenulosa Piere ex Laness. và loài Terminalia chebula Retz. được dùng nhiều hơn.

   

 KHẾ

Tên khoa học: Averrhoa carambola L., họ Chua me đất (Oxalidaceae). Cây được trồng khắp nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Lá, quả, rễ.

Thành phần hoá học: Acid hữu cơ chủ yếu là acid oxalic, các yếu tố vi lượng.

Công dụng, cách dùng: Lá chữa dị ứng: 20g lá nấu nước uống, 30-50g lá nấu nước tắm hoặc dùng lá tươi giă, đắp ngoài. Quả trị ho, đau họng: ép 100-150g quả khế tươi lấy nước uống. Rễ trị đau khớp, đau đầu măn tính: ngày uống 10-15g dạng thuốc sắc, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

 

KHIÊN NGƯU TỬ

Semen Ipomoeae, Semen Pharbitidix

 Tên khác: Hắc sửu, Bạch sửu, B́m b́m biếc.

 Nguồn gốc: Hạt phơi sấy khô của cây Khiên ngưu (Pharbitis nil (L.) Choisy = Pharbitis purpurea (L.) Voigt. = Ipomoea hederacea Jacq.), họ B́m b́m (Convolvulaceae).

 Thành phần hoá học: Phacbitin 2% (một glycosid có cấu tạo phức tạp, có tác dụng tẩy), chất màu, dầu béo, nhựa.

Công dụng: Chữa bí đại tiểu tiện, phù thũng, hen, giun.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 1-8g, dưới dạng thuốc sắc, hoàn, tán.

Chú ư: Không dùng cho phụ nữ có thai.

 

 

KHIẾM THỰC BẮC

Semen Euryales

Nguồn gốc: Nhân hạt của quả chín đă phơi hay sấy khô của cây Khiếm thực (Euryale ferox Salisb.), họ Súng (Nymphaeaceae). Cây được trồng trong các ao đầm của Trung Quốc, nước ta chưa thấy cây này. Vị thuốc phải nhập hoàn toàn.

Thành phần hoá học chính: Hydratcarbon, protein, lipid, vitamin C.

Công dụng: Chữa di tinh, tiểu đục, bạch đới, lưng gối mỏi đau, tiểu tiện không nín được.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-10g, dạng thuốc sắc, hoàn tán dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Trên thị trường có vị thuốc Khiếm thực nam là rễ củ phơi khô của cây củ súng nhỏ (Nymphaea stellata Wild.), họ Súng (Nymphaeaceae). Cây có nhiều ở các vùng ao hồ nước ta. Công dụng như Khiếm thực Bắc.

 

 KHOẢN ĐÔNG HOA

Flos Tussilaginis farfarae

Tên khác: Tussilage (Pháp), Chassetoux (Pháp).

Nguồn gốc: Nụ hoa phơi hay sấy khô của cây Khoản đông hoa (Tussilago farfara L.), họ Cúc (Asteraceae). Cây mọc hoang, được trồng ở Trung Quốc và nhiều nước châu Âu.

Thành phần hoá học chính: Nụ hoa chứa chất khoáng, tinh dầu, flavonoid, tanin.

Công dụng liều dùng: Khoản đông hoa là một vị thuốc được dùng từ lâu đời cả trong đông y và tây y để chữa ho, ho có đờm, ho ra máu. Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với nhiều vị thuốc ho khác.

 

 

KHỔ SÂM CHO LÁ

Tên khoa học: Croton tonkinensis Gagnep., họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Cây mọc hoang và được trồng nhiều nơi để làm thuốc, làm cảnh.

Bộ phận dùng: Lá thu hái khi cây đang có hoa, phơi khô.

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, alcaloid, tanin.

Công dụng: Chữa đau bụng không rơ nguyên nhân, chữa lỵ cấp tính, tiêu chảy. Chữa viêm loét dạ dày tá tràng. Chữa sa sinh dục, chữa vẩy nến. Lá Khổ sâm có tác dụng an thần, lợi tiểu, chống dị ứng...

Cách dùng, liều lượng: Ngày 10-20g dạng thuốc sắc.

Chú ư: Tên gọi “Khổ sâm” c̣n dùng để chỉ vị thuốc Sơn đậu căn (Radix Sophorae flavescens) là rễ của cây Khổ sâm cho rễ (Sophora flavescens Ait.) (xem Sơn đậu căn) và vị thuốc Nha đảm tử (Fructus Bruceae) là quả của cây Sầu đâu cứt chuột (Brucea javanica Merr.) (xem Nha đảm tử).

 

 KHƯƠNG HOẠT

Rhizoma et radix Notopterygii

Nguồn gốc: Là thân rễ và rễ phơi khô của cây Khương hoạt (Notopterygium incisum Ting ex H.T. Chang) hoặc cây Khương hoạt lá rộng (Notopterygium forbesii Boiss.), họ Cần (Apiaceae). Vị thuốc nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, coumarin (notopterol, notoptol, bergapten).

Công dụng: Chữa thấp khớp, đau nhức ḿnh mẩy, đau đầu, sốt mồ hôi không ra được, ung nhọt. Chữa bán thân bất toại, nói không rơ, đi lại khó khăn, tay cầm không vững. Chữa rụng tóc, tóc bạc sớm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-10g, dạng thuốc sắc.

 

 KHƯƠNG TAM THẤT

Tên khác: Cẩm địa la, Khương tam thất, Ngải máu.

Tên khoa học: Kaempferia rotunda L., Kaempferia longa Jacq họ Gừng (Zingiberaceae). Cây mọc hoang ở vùng núi và được trồng làm cảnh, làm thuốc.

Bộ phận dùng: Thân rễ (Rhizoma Kaempferiae Rotundae). thu hái vào mùa Đông- Xuân, rửa sạch, thái phiến phơi khô.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu.

Công dụng: Bổ huyết, điều kinh, cầm máu, giảm đau, giải độc, làm thuốc chữa kinh bế đau bụng và hành kinh loạn kỳ. C̣n dùng chữa đau dạ dày, đại tiện ra máu, sơn lam chướng khí, ngứa lở, các loại ngộ độc, đau xương, đau bụng. Lá Khương tam thất làm thuốc đắp các vết thương. Rễ củ được dùng làm thuốc lợi tiêu hoá, dùng bột đắp tiêu sưng viêm, mưng mủ, dùng trị đ̣n ngă tổn thương.

Cách dùng, liều lượng: Liều dùng 6-13g, dạng thuốc sắc, hoặc dùng 6-12g bột uống với nước cơm, thường dùng phối hợp các vị khác.

 

 KIM ANH

Fructus Rosae laevigatae

Nguồn gốc: Vị thuốc là quả giả bổ đôi phơi khô của cây Kim anh (Rosa laevigata Michx.), họ Hoa hồng (Rosaceae). Cây mọc hoang hoặc được trồng làm cảnh ở nước ta và một số nước khác.

Thành phần hoá học chính: Vitamin C, tanin, saponin, acid citric, acid malic, glucose, nhựa. Hạt chứa heterosid độc (khi dùng phải bỏ hạt).

Công dụng: Chữa di tinh, mộng tinh, hoạt tinh, tiểu rắt, tiểu ra dưỡng trấp, tiêu chảy măn tính.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dung 4-12g, dạng thuốc sắc, cao, thường dùng phối hợp các vị thuốc khác.

Chú ư: Tránh nhầm lẫn cây Kim anh với Tầm xuân (Rosa multiflora Thunb.) cùng họ Hoa hồng.

Chuyển lên đầu trang

 

KIM NGÂN

Tên khác: Nhẫn đông.

Tên khoa học: Lonicera japonica Thunb., Lonicera dasystyla Rehd., Lonicera confusa DC., Lonicera cambodiana Pierre, họ Kim ngân (Caprifoliaceae).

Bộ phận dùng: Hoa sắp nở (Kim ngân hoa - Flos Lonicerae), cành nhỏ và lá. Cành nhỏ và lá (Kim ngân cuộng - Cauliscum folio Lonicerae).

Thành phần hoá học chính: Flavonoid (inosid, lonicerin), saponin, tinh dầu.

Công dụng: Tiêu độc, hạ nhiệt, chữa mụn nhọt, mẩn ngứa, dị ứng. Chữa viêm gan mạn tính, viêm gan virus. Chữa viêm cầu thận cấp tính, chữa sốt xuất huyết...

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 12-16g. Dạng thuốc sắc, hăm, cao. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

KIM TIỀN THẢO

Herba Desmodii

Tên khác: Đồng tiền lông, Mắt trâu, Vảy rồng.

Nguồn gốc: Thân, cành mang lá đă phơi khô của cây Kim tiền thảo c̣n gọi là (Desmodium styracifolium Merr.), họ Đậu (Fabaceae). Cây mọc hoang ở nhiều địa phương trong nước ta.

Thành phần hoá học chính: Saponin, flavonoid.

Công dụng: Chữa sỏi thận, sỏi túi mật, sỏi bàng quang, phù thũng, tiểu buốt, tiểu rắt, ung nhọt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-30g, dạng thuốc sắc.

Ghi chú: Trên thị trường hiện nay nhiều chế phẩm Đông dược dùng chữa sỏi thận trong thành phần có Kim tiền thảo.

 

 

 KINH GIỚI

Herba Elsholtziae ciliatae

Tên khác: Kinh giới Việt Nam, Bán biên tô, Tiểu kinh giới, Bài hương thảo.

Tên khoa học: Elsholtzia ciliatae (Thunb.) Hyland. = Elsholtzia cristata Willd.,  họ Bạc hà (Lamiaceae).

Bộ phận dùng: Ngọn mang lá, hoa.

Thành phần hoá học: Tinh dầu.

Công dụng: Kinh giới chữa cảm sốt, nhức đầu, trị ngứa. Chữa phụ nữ sau khi sinh bị trúng phong, băng huyết, rong kinh, đại tiện ra máu.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-16g cây tươi hay 30g khô dạng thuốc sắc, hăm, có khi giă nát dùng tươi.

Ghi chú: Kinh giới Trung Quốc được khai thác từ cây (Schizonepeta tenuifolia Brig.), họ Bạc hà (Lamiaceae).

 

KINH GIỚI NÚI

Tên khác: Chùa dù.

Tên khoa học: Elsholtzia penduliflora W.W. Smith, họ Bạc hà (Lamiaceae). Cây mọc hoang ở các vùng núi nước ta.

Bộ phận dùng: Ngọn mang lá, hoa.

Thành phần hoá học: Tinh dầu, thành phần chủ yếu trong tinh dầu là cineol.

Công dụng: Chữa cảm cúm, sốt, ho, nhức đầu, làm ra mồ hôi. Chữa viêm thận, phụ nữ băng huyết, rong kinh, thổ huyết, tiểu tiện ra máu.

Cách dùng, liều lượng: 10-16g (khô) mỗi ngày, uống dưới dạng thuốc sắc hay thuốc hăm.

Tinh dầu Kinh giới núi pha loăng, xoa bóp chữa cảm cúm, tê thấp, đau ḿnh mẩy.

 

 

LA HÁN

Fructus Momordicae grosvenorii

Tên khác: La hán quả, Quang quả mộc miết.

Nguồn gốc: Quả của cây La hán (Momordica grosvenori Swingle.), họ Bí (Cucirbitaceae). Vị thuốc phải nhập hoàn toàn từ Trung quốc.

Thành phần hoá học chính: Carbohydrat, protein, chất béo, saponin triterpenoid, các chất khoáng.

Công dụng: Chữa sốt, chữa viêm họng, chữa ho, long đờm, làm thuốc bổ phổi mát, làm dịu cổ họng, chữa mất tiếng, làm thuốc chữa táo bón.

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 3-8g dạng thuốc sắc (dùng kết hợp với các vị thuốc khác) hoặc hăm với nước uống hàng ngày thay nước chè.

Chú ư: Không dùng La hán cho người tỳ vị hư hàn

 

LAN MỘT LÁ

Tên khác: Thanh thiên quỳ, Trân châu diệp, Lan cờ, Cây một lá.

Tên khoa học: Nervilia fordii (Hance) Schltr., họ Lan (Orchidaceae). Cây mọc hoang ở các tỉnh vùng núi nước ta.

Bộ phận dùng: Lá, củ rửa sạch, phơi sấy khô.

Thành phần hoá học chính: Flavonoid.

Công dụng: Thuốc lợi phổi, chữa lao phổi, ho, chữa lở loét, mụn nhọt, giải độc.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 12-20g lá, dạng thuốc hăm hoặc sắc uống thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác. Có thể dùng ngoài, giă nát lá, đắp lên chỗ lở loét, mụn nhọt, chỗ đau nhức.

Chú ư: Các loài: Nervilia aragoana Gaudich; N. crispata (Blume) Schlecter; N. plicata (Andr.) Schlecter cũng được dùng với cùng công dụng.

 

LẠC TIÊN

Herba Passiflorae

Nguồn gốc: Phần trên mặt đất phơi hay sấy khô của cây Lạc tiên (Passiflora foetida L.), họ Lạc tiên (Passifloraceae). Cây mọc hoang ở nhiều địa phương nước ta.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid, flavonoid, saponin.

Công dụng: Làm thuốc ngủ, an thần, chữa suy nhược thần kinh, kinh nguyệt sớm, đau bụng nhiệt (thường phối hợp với các vị thuốc khác như lá dâu, lá vông).

Cách dùng, liều lượng: Ngày 8-20g dạng thuốc sắc hoặc cao lỏng, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Ghi chú: Một số địa phương dùng củ cây Cốt cắn (Củ khát nước) (Nephrolepis cordifolia Presl), họ Vảy lớp (Davalliaceae) với tên củ Lạc tiên.

 

LÁ LỐT

Tên khoa học: Piper lolot C. DC., họ Hồ tiêu (Piperaceae). Cây được trồng ở vườn để làm thuốc, làm rau.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất, rễ.

Thành phần hoá học chính: Lá, thân, rễ chứa tinh dầu, alcaloid, flavonoid. Thành phần chính trong tinh dầu lá, thân là caryophylen, trong tinh dầu rễ là bornyl acetat.

Công dụng: Chữa đau xương, thấp khớp, đau răng, đau đầu, chữa viêm xoang, nước mũi đặc, hôi, chữa bụng đầy hơi, tiêu chảy, chữa phù thũng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 8-12g thân, lákhô, dạng thuốc sắc. Dùng 50-100g Lá lốt tươi sắc đặc ngậm chữa đau răng. Dùng phối hợp trong nồi lá xông chữa cảm.

  

 

LĂO QUAN THẢO

Herba Geranii thunbergii

Tên khác:   Cỏ quan, Mỏ hạc.

Nguồn gốc: Phần trên mặt đất phơi hay sấy khô của một số loài thuộc chi Geranium  như Geranium nepalense Sweet, G. nepalense var. thunbergii (Sieb et Zucc) Kudo, G. sibiricum var. glabrius (Hara) Ohwi, họ Mỏ hạc (Geraniaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở một số vùng núi cao phía Bắc nước ta.

Thành phần hoá học: Lăo quan thảo chứa tanin, flavonoid, phytosterol, acid amin, đường tự do...

Công dụng: Chữa các bệnh nhiễm trùng đường ruột như tiêu chảy, kiết lỵ lâu ngày. Chữa phong thấp, làm mạnh gân cốt, chữa đau dây thần kinh toạ, chữa ung nhọt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 9-12g dạng thuốc sắc hoặc cao mềm, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

 

LIÊN KIỀU

Fuctus Forsythiae

Tên khác: Lăo kiều, Thanh kiều, Hạn liên tử.

Nguồn gốc: Quả chín khô của cây Liên kiều (Forsythia suspensa Vahl.), họ Nhài (Oleaceae). Thanh kiều là quả mới chín hái về, đồ rồi phơi khô. Lăo kiều là quả chín già phơi khô bỏ hạt. Vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Saponin, alcaloid.

Công dụng: Chữa mụn nhọt, mẩn ngứa, tràng nhạc, ban sởi, tiểu đỏ nóng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g dạng sắc, hoàn tán.

Chú ư: Nhọt đă vỡ không dùng.

 

 

LINH CHI

Tên khác: Linh chi thảo, Nấm gỗ, Nấm Trường thọ (Longevity mushroom).

Tên khoa học: Ganoderma lucidum (Leyss ex. Fr.) Karst., họ Nấm gỗ (Ganodermataceae). Nấm mọc hoang dại, được trồng ở nước ta, Triều tiên, Trung Quốc và nhiều nước khác.

Thành phần hoá học chính: acid amin, protein, saponin triterpenic, sterol.

Công dụng: An thần, tăng trí nhớ, chữa viêm gan cấp và măn tính, điều hoà huyết áp, tăng tuổi thọ.

Cách dùng, liều lượng: Mỗi ngày dùng 2-5g thái mỏng hoặc tán thành bột sắc uống. Nước sắc có mùi thơm, vị hơi đắng, có thể thêm đường hay mật ong vào cho dễ uống.

Chú ư: Một số loài thuộc chi Ganoderma như Ganoderma sinense Zhao.Xu et Zhang, Ganoderma japonicum... được dùng với cùng công dụng. Loài Ganoderma applanatum (Pers.) Pat. cũng được sử dụng dưới tên gọi "Cổ Linh chi", "Linh chi đa niên".

 

LONG CỐT

Os Draconis

Nguồn gốc: Dược liệu là xương sống và các xương khác hoá thạch của động vật có vú lớn cổ xưa như Rhinocerus hoặc Rechistaric reptiles được thu thập và làm vỡ thành các mảnh. Vị thuốc nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Các nguyên tố khoáng calci, phosphat, sulphat, Mg, Al, Fe...

Công dụng: Chữa hoa mắt, chóng mặt, hay hồi hộp, mất ngủ, ra mồ hôi trộm. Làm thuốc bổ thận.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 15-30g phối hợp trong các phương thuốc dạng thuốc sắc, hoàn tán.

Chú ư: Cần nấu kỹ Long cốt trước khi phối hợp với các vị thuốc khác.

 

 

 LONG ĐỞM

Radix Gentianae

Nguồn gốc: Dược liệu là rễ khô của cây Long đởm (Gentiana scabra Bunge.), họ Long đởm (Gentianaceae). Vị thuốc nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Glucosid đắng thuộc nhóm iridoid gọi là gentiopicrin, đường gentianose.

Công dụng: Long đởm làm thuốc giúp sự tiêu hoá, thuốc bổ đắng, làm đại tiện dễ mà không gây tiêu chảy. Chữa đau dạ dày, chữa sốt, ho, khó thở. Cây Long đởm tươi giă nát đắp chữa da viêm mủ, nhọt độc, viêm hạch, apxe.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g phối hợp trong các phương thuốc dạng thuốc sắc, hoàn tán.

 

LONG NĂO

Tên khoa học: Cinnamomum camphora L. Nees. et Eberm. = Laurus camphora L., họ Long năo (Lauraceae). Cây được trồng ở nhiều địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Lá, cành, thân. Gỗ và lá Long năo là nguyên liệu để cất tinh dầu.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu Long năo tuỳ nguồn gốc mà thành phần chủ yếu của tinh dầu khác nhau ví dụ camphor, cineol, linalol...

Công dụng, cách dùng: Lá Long năo có thể nấu nước xông chữa cảm, nấu nước tắm chữa lở loét. Rễ sắc uống chữa đau bụng, nôn mửa, tiêu hoá kém. Tinh dầu có tác dụng trị bỏng, xua muỗi, tẩy uế, chế dầu cao xoa bóp. Bột long năo là tinh thể Long năo lấy được từ gỗ rễ và lá bằng phương pháp cất kéo hơi nước. Bột Long năo được gọi là Camphor có thể dùng ngoài làm thuốc sát trùng, tiêu viêm, dùng trong dưới dạng thuốc tiêm (Dung dịch camphor 10-20% trong dầu) chữa trụy tim.

 

 

LONG NHA THẢO

Tên khác: Cỏ răng rồng, tiên hạc thảo.

Tên khoa học: Agrimonia eupatoria L., họ Hoa hồng (Rosaceae). Cây mọc hoang ở các vùng núi cao nước ta. Dược liệu phần lớn phải nhập từ Trung quốc.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, β-sistosterol, tanin.

Công dụng: Chữa ho ra máu, thổ huyết, chảy máu cam, băng huyết, đại tiện ra máu. Chữa nổi hạch, mụn nhọt. Sử dụng trong một số bài thuốc hỗ trợ điều trị ung thư.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 20-30g dạng nước sắc, dùng riêng hay phối hợp với các dược liệu khác.

 

LONG NHĂN

Arillus Longanae

Nguồn gốc: Vị thuốc là áo hạt (thường gọi là cùi) đă chế biến khô của quả cây Nhăn (Euphoria longan (Lour.) Steud.), họ Bồ ḥn (Sapindaceae). Nhăn là loại cây ăn quả được trồng nhiều nơi trong nước ta.

Thành phần hoá học: Đường (saccarose, glucose), protein, acid tatric, vitamin A, B, các men amylase, peroxidase.

Công dụng: Làm thuốc bổ, trị chứng trí nhớ bị sút kém, hay quên, mất ngủ, tâm thần hồi hộp mệt mỏi, thiếu máu.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 9-18g. Dạng thuốc sắc hay cao lỏng.

Chú thích: Hạt nhăn sấy khô, tán bột để chữa chốc lở, cầm máu khi chân tay bị đứt. Cùi chế biến khô của quả cây Vải (Litchi sinensis Sonn.) - Lệ chi nhục (Arillus Litchi) được dùng như Long nhăn. Hạt quả vải (Lệ chi hạch- Semen Litchi) chữa đau bụng khi hành kinh, chữa đau dạ dày.

 

 LÔ HỘI        

Tên khác: Lưỡi hổ, Nha đam.

Tên khoa học: Aloe spp., họ Lô hội (Asphodelaceae). Cây được trồng ở nước ta, nhiều ở miền Nam Trung bộ.

Bộ phận dùng: Dịch ép, cô đặc, đóng thành bánh., gel.

Thành phần hoá học chính: Các dẫn chất anthranoid.

Công dụng, cách dùng: 0,05- 0,1g kích thích nhẹ niêm mạc, giúp tiêu hoá, ăn uống không tiêu. Liều lớn chữa nhức đầu, sung huyết phổi, sung huyết các phủ tạng.

Chú ư: Nhựa Lô hội độc, liều cao (trên 8g) có thể gây ngộ độc chết người. Phụ nữ có thai, người bị tiêu chảy không dùng.

- Gel lấy từ lá Lô hội được dùng để sản xuất nước uống bổ dưỡng, chế một số loại mỹ phẩm.  

 

LỘ LỘ THÔNG

Fructus Liquidambaris.

Nguồn gốc: Quả phơi khô của cây Sau sau (Liquidambar formosana Hance), họ Sau sau (Hamamelidaceae). Cây mọc nhiều ở các vùng rừng thưa miền Bắc và miền Trung nước ta.

Thành phần hoá học chính: Tanin, saponin, tinh dầu...

Công dụng, cách dùng:

Chữa phong thấp, làm thuốc lợi niệu, điều hoà kinh nguyệt, dùng cho sản phụ ít sữa.

Chú ư: Lá cây Sau sau (Phong hương diệp) nấu nước uống chữa mẩn ngứa, lợi niệu.

Người ta dùng cành, lá cây Sau sau chữa thấp khớp, Dùng nhựa cây làm thuốc giảm xuất tiết đường hô hấp (sổ mũi), thuốc bôi ngoài da làm mau lành vết thương.

  

 LƯU HUỲNH

Tên khác:   Diêm sinh, Lưu hoàng.

Nguồn gốc: Lưu huỳnh là nguyên tố có sẵn trong thiên nhiên. Tuỳ nguồn gốc và cách chế biến mà có dạng khác nhau.

Công dụng, cách dùng:

Làm thuốc bội ngoài, chữa mun nhọt, mụn trứng cá. Chữa người già bí đại tiện, phong thấp. (Lưu huỳnh tán nhỏ, cho vào ruột lợn, đem luộc sôi đều trong 4h lấy ra tán nhỏ viên thành hạt), ngày uống 2-4g.

Làm thuốc tẩy giun, sán, làm mượt lông cho súc vật.

Dùng trong chế biến và bảo quản dược liệu.

Chú ư: Gần đây có xu hướng lạm dụng lưu huỳnh trong chế biến và bảo quản làm ảnh hưởng đến chất lượng một số dược liệu như Cúc hoa, Ngưu tất, Hoài sơn...

 

 LỰU

Tên khoa học: Punica granatum L., họ Lựu (Punicaceae). Cây được trồng khắp nơi trong nước ta để làm cảnh, làm thuốc.

Bộ phận dùng: Vỏ rễ (Cortex Granati), vỏ thân, vỏ cành, Vỏ quả (Thạch lựu b́ – Pericarpium Granati).

Thành phần hoá học chính: Vỏ (rễ, thân, cành) chứa tanin, alcaloid. Vỏ quả chứa tanin, chất mầu.

Công dụng, cách dùng: Vỏ rễ, thân, cành: Diệt sán. Vỏ rễ sắc uống ngày 20-60g, thường dùng vỏ tươi v́ có nhiều alcaloid. Vỏ quả chữa lỵ, bạch đới, kinh nguyệt quá nhiều, nước sắc c̣n dùng ngậm chữa viêm amidan. Sắc uống mỗi ngày 10- 15g.

Chú ư: Không dùng vỏ rễ cho phụ nữ có thai và trẻ em.

 

 

 MA HOÀNG

Herba Ephedrae

Nguồn gốc: Phần trên mặt đất phơi hay sấy khô của một số loài Ma hoàng, thường gặp nhất là Thảo ma hoàng (Ephedra sinica Stapf.), Mộc tặc ma hoàng (Ephedra equisetina Bunge.), Trung gian ma hoàng (Ephedra intermedia Schrenk et Mey.) họ Ma hoàng (Ephedraceae). Nước ta chưa thấy những cây này. Vị thuốc Ma hoàng phải nhập hoàn toàn từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid (ít nhất 1%), chủ yếu là ephedrin.

Công dụng: Giải cảm không có mồ hôi, chữa ho, trừ đờm, viêm khí quản, hen suyễn. Chiết xuất ephedrin bào chế thành viên nén làm thuốc chữa hen hay dung dịch nhỏ mũi.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 5-10 g, dạng thuốc sắc.

Ghi chú: Rễ Ma hoàng (Radix Ephedrae - Ma hoàng căn) có tác dụng cầm mồ hôi.

 

MẠCH MÔN

Radix Ophiopogi

Nguồn gốc: Rễ củ phơi hay sấy khô của cây Mạch môn (Ophiopogon japonicus (Thunb.) Ker. Gawl.), họ Mạch môn (Haemodoraceae). Cây được trồng nhiều nơi trong nước ta làm cảnh và làm thuốc.

Thành phần hoá học chính: Chất nhầy, đường, saponin steroid, sitosterol.

Công dụng: Chữa viêm phế quản cấp tính, chữa ho, long đờm, ho lao, sốt, phiền khát, thổ huyết, chảy máu cam. Chữa ăn uống không tiêu, chữa nhồi máu cơ tim.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc, khi dùng rút bỏ lơi mới có tác dụng tốt.

 

 

MẠCH NHA

Fructus Hordei germinatus

Nguồn gốc: Quả chín của cây Đại mạch (Hordeum vulgare L., Hordeum sativum Jess.), họ Lúa (Poaceae), làm mọc mầm, sấy ở nhiệt độ dưới 600C. Dược liệu nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học: Trong hạt có tinh bột, chất béo, protid, đường, các men amylase, maltase, vitamin B, C. Trong mầm hạt có men giúp sự tiêu hoá.

Công dụng: Thuốc bổ dưỡng, dùng khi ăn uống kém tiêu, ngực bụng chướng đau. Chữa phù do thiếu vitamin.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 12-30g dưới dạng nước pha hay cao mạch nha.

Chú ư: Nước ta có dùng thóc tẻ (Oryza sativa L. var. utilissima), lấy hạt, làm nẩy mầm, sấy khô với tên Cốc nha. Trên thực tế các lương y vẫn dùng hạt cây Đại mạch không mầm để làm thuốc.

 

MĂ ĐỀ

Tên khác: Xa tiền

Tên khoa học: Plantago major L., họ Mă đề (Plantaginaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây (Xa tiền thảo - Herba Plantaginis). Lá (Xa tiền - Folium Plantaginis). Hạt (Xa tiền tử - Semen Plantaginis).

Thành phần hoá học chính: Lá chứa flavonoid, vitamin K, muối kali.Hạt có chất nhầy, acid plantenolic, succinic…

Công dụng: Chữa phù thũng, bí tiểu tiện, đi tiểu ra máu, ho lâu ngày, viêm khí quản, đau mắt đỏ, mụn nhọt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-20g lá hoặc 6-12g hạt dưới dạng thuốc sắc. Lá tươi giă nhỏ đắp lên mụn nhọt, toàn cây nấu thành cao đặc chữa bỏng.

 

 MĂ TIỀN

Semen Strychni

Nguồn gốc: Hạt phơi hay sấy khô của cây Mă tiền  (Strychnos nux-vomica L.) hoặc một số loài khác thuộc chi Strychnos,, họ Mă tiền (Loganiaceae). Cây mọc hoang ở các vùng núi nước ta.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid (strychnine, brucin) .

Công dụng: Kích thích tiêu hoá, chữa nhức mỏi chân tay. Chiết xuất strychnin và brucin dùng trong y học hiện đại.

Cách dùng, liều lượng: - Mă tiền sống: Dùng dưới dạng cồn xoa bóp bên ngoài.

- Mă tiền chế: Mă tiền dùng trong phải chế với một số phụ liệu như nước vo gạo, dầu vừng. Dùng dưới dạng thuốc bột hay thuốc sắc. Ngày uống 0,1-0,3g, dùng phối hợp với các thuốc khác, uống lúc no. Trẻ em dưới 3 tuổi không được dùng.

Ghi chú: Thuốc độc bảng A.

 

MẠN KINH TỬ

Fructus Viticis

Tên khác: Quan âm biển.

Nguồn gốc: Dược liệu là quả chín đă phơi hay sấy khô của cây Mạn kinh (Vitex trifolia L.) hay cây Mạn kinh đơn diệp (Vitex trifolia L. var. simplicifolia Cham.), họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae). Cây mọc hoang nhiều ở các vùng rừng núi và ven biển nước ta.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu (chủ yếu là Camphor và pinen), alcaloid.

Công dụng: Chữa sốt, cảm mạo, nhức đầu, đau mắt, hoa mắt chóng mặt, tê buốt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g dạng thuốc sắc hoặc 2-3g dưới dạng bột hay ngâm rượu.

 

 

 

MẦN TƯỚI

Tên khác: Lan thảo, Hương thảo.

Tên khoa học: Eupatorium fortunei Turcz., họ Cúc (Asteraceae) Cây mọc hoang và được trồng làm thuốc.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất phơi hay sấy khô (Herba Eupatorii).

Thành phần hoá học chính: Coumarin.

Công dụng: Lợi tiểu, chữa sốt, chữa mụn nhọt, lở ngứa.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 50-150g cây tươi dưới dạng thuốc sắc.

Chú ư: Cây Mần tưới trắng (Eupatorium staechadosmum Hance) giải cảm, chữa kinh nguyệt không đều. Cây Mần tưới tía (Ba dót, Bả dột) (Eupatorium ayapana Vent.) dùng trong dân gian chữa cao huyết áp.

 

MÀNG TANG

Tên khoa học: Litsea cubeba (Lour.) Pers. Syn., Litsea citrata Bl., Laurus cubeba Lour., họ Long năo (Lauraceae).

Bộ phận dùng: Rễ, quả, cành lá.

Thành phần hóa học chính: Nhiều bộ phận cây Màng tang có tinh dầu, tinh dầu quả chứa tới 70% citral, tinh dầu lá chứa 80% cineol, tinh dầu vỏ thân chứa 36% geraniol. Ngoài tinh dầu trong cây Màng tang c̣n chứa alcaloid và các chất khác.

Công dụng: Cất tinh dầu sử dụng làm chất thơm trong sản xuất xà pḥng và nước hoa, chữa cảm lạnh, đau bụng lạnh.

Cách dùng, liệu lượng: Mỗi ngày 3-10g quả hoặc 10-15g rễ dưới dạng thuốc sắc. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

 

 

MĂNG CỤT

Tên khác: Sơn trúc tử, Cây măng, Giáng châu.

Tên khoa học: Garcinia mangostana L., họ Bứa (Clusiaceae). Cây được trồng ở các tỉnh phía Nam nước ta để lấy quả ăn.

Bộ phận dùng: Vỏ quả và vỏ cây (Pericarpium et Cortex Garciniae Mangostanae). Vỏ quả thu thập vào mùa quả chín, phơi khô cất dành dùng làm thuốc.

Thành phần hoá học chính: Vỏ quả chứa tanin, nhựa, flavonoid, vỏ cây có hàm lượng tanin cao.

Công dụng: Làm thuốc chống viêm, chữa tiêu chảy, ức chế dị ứng, làm giăn phế quản trong điều trị hen suyễn. Làm thuốc chống dịch tả, bệnh lỵ, kháng vi khuẩn, kháng vi sinh vật, chống suy giảm miễn dịch, chữa vết thương ngoài da.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 20-40g, có thể dùng tới 60g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị khác.

 

MẬT GẤU

Tên khác: Hùng đởm.

Nguồn gốc: Mật của một số loài Gấu (Ursus spp) như Gấu ngựa, Gấu chó, họ Gấu (Ursidae).

Thành phần hoá học chính: Acid ursodesoxycholic, muối kim loại của acid cholic, cholesterol, sắc tố mật...

Công dụng: Làm thuốc xoa bóp chữa viêm tấy, đau nhức, tụ máu bầm tím do ngă hay chấn thương. Chữa viêm loét dạ dày, mật và tụy hoạt động kém, sỏi mật, viêm khớp, viêm xoang...Gần đây mật gấu được dùng kết hợp với các phương pháp trị liệu khác để điều trị một số một số trường hợp ung thư.

Cách dùng, liều lượng: Mật gấu hoà tan trong rượu, dùng để uống và xoa bóp chỗ sưng đau. Mỗi ngày uống 0,3g mật gấu pha với rượu hoặc nước sôi.

 

MẬT ONG

Mel

Tên khác: Bách hoa tinh, Bách hoa cao, Phong mật.

Nguồn gốc: Là mật lấy từ tổ của Ong mật gốc Á (Apis cerana Fabricius) hay Ong mật gốc Âu (Apis melifera L.), họ Ong mật (Apidae).

Thành phần hoá học chính: Đường đơn, muối vô cơ, acid hữu cơ, men.

Công dụng: Thuốc bổ, làm giảm độ acid của dịch vị, điều trị loét dạ dày, Mật ong được sử dụng làm tá dược trong các sản phẩm bào chế Đông dược...

Cách dùng, liều lượng: Ngày 10-50g dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

Nhiều sản phẩm từ Ong mật được sử dụng làm thuốc như phấn hoa, sữa ong chúa, sáp...

 

 

 MẪU ĐƠN B̀

Cortex Paeoniae suffruticosae

(Cortex Moutan Radicis)

Tên khác: Đan b́, Đơn b́

Nguồn gốc: Vỏ rễ khô của cây Mẫu đơn (Paeonia suffruticosa Andr.), họ Hoàng liên (Ranunculaceae). Vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid, saponin, có glycosid khi thuỷ phân cho paeonol (C9H10O3) và glucose.

Công dụng: Chữa phát ban, nôn ra máu, chảy máu cam, kinh nguyệt bế tắc, ung nhọt, kinh giản co giật.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 5-10g, dạng thuốc sắc.

Chú ư: Phụ nữ mới có thai không nên dùng.

 

MẪU LỆ

Concha Ostreae

Tên khác:   Vỏ hà, Vỏ hàu.

Nguồn gốc: Vỏ khô của nhiều loài Hàu (Ostrea spp.), họ Mẫu lệ (Ostreidae). Đa số các loài hầu này sống ở những vùng biển ấm.

Thành phần hoá học chính: Calci carbonat (80-95%), calci phosphat và sulphat, c̣n có Mg, Al, Fe.

Công dụng: Mẫu lệ dùng làm thuốc bổ, chữa bệnh có nhiều mồ hôi, chữa đau dạ dày, cơ thể suy nhược, băng huyết, chữa mụn nhọt, lở loét. Bột Mẫu lệ nung (Đoạn mẫu lệ) dùng bôi ngoài chữa mụn nhọt mới sưng, chưa thành mủ.

Cách dùng, liều lượng: Mẫu lệ khô, khi dùng rửa sạch, làm khô, tán vụn thành bột hoặc nung rồi mới tán bột. Mỗi ngày uống từ 3-6g.

 

 

 

MÍA D̉

Tên khác: Cát lối, Đọt đắng.

Tên khoa học: Costus speciosus Smith., họ Gừng (Zingiberaceae). Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta, thường ưa những nơi ẩm thấp.

Bộ phận dùng: Thân rễ.

Thành phần hoá học chính: Thân rễ Mía ḍ chứa saponin steroid (diosgenin, tigogenin).

Công dụng, cách dùng: Chữa viêm thận, phù thũng, chữa viêm gan cổ chướng.Thân rễ sắc uống chữa sốt, chữa tiểu buốt, tiểu rắt, nước tiểu vàng, chữa viêm bàng quang, làm ra mồ hôi. Ngày dùng 10-20g.

Thân rễ Mía ḍ là nguồn dược liệu có tiềm năng dùng để chiết xuất diosgenin.

 

MIẾT GIÁP

Carapax Trionycis

 Tên khác: Mai ba ba, Thuỷ ngư xác, Giáp ngư, Miết xác.

 Nguồn gốc: Dược liệu là mai con Ba ba (Trionyx sinensis Wiegmann.), họ Baba (Triomychidae).

 Thành phần hoá học: Miết giáp chứa keratin, iod, vitamin D, muối khoáng.

 Công dụng: Miết giáp được dùng làm thuốc bổ dưỡng, chữa đau nhức xương, huyết áp cao, trẻ em sốt co giật, phụ nữ bế kinh, ung nhọt. Chữa hen suyễn.

 Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-30g, dạng thuốc sắc, bột, cao thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

 Chú ư: Người ăn không tiêu, tiêu chảy, phụ nữ có thai không dùng Miết giáp.

Có nhiều loài Baba khác nhau đều được sử dụng để thu vị thuốc Miết giáp.

 

 

MINH GIAO

Colla Bovis

Nguồn gốc: Vị thuốc là keo chế từ da trâu (Babulus babulis L.) hoặc ḅ (Bos taurus L.), họ Trâu ḅ (Bovidae).

Thành phần hoá học chính: collagen, muối calci.

Công dụng: Bổ, thuốc cầm máu khi băng huyết, thổ huyết và chữa các chứng ra máu (lỵ, ho, đi tiểu ra máu), động thai, kinh nguyệt không đều, c̣n dùng làm thuốc an thần.

Cách dùng, liều lượng: 4-12g mỗi ngày, dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu uống.

Ghi chú: A giao (Colla Asini) là keo chế từ da lừa (Equis asinus L.), họ Ngựa (Equidae), công dụng như Minh giao. Nước ta phải nhập A giao từ Trung Quốc, Mông cổ.

 

MÓNG LƯNG RỒNG

Tên khác: Chân vịt, Quyển bá, Hồi sinh thảo, Trường sinh thảo, Quyển bá trường sinh.

Tên khoa học: Selaginella tamariscina (Beauv.) Spring., họ Quyển bá (Selaginellaceae).

Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Selaginellae).

Thành phần hoá học chính: Flavonoid.

Công dụng: Toàn cây Móng lưng rồng dùng chữa ho ra máu, nôn ra máu. Chữa bỏng lửa, váng đầu hoa mắt, vàng da. Chữa ung thư phổi, ung thư ṿm họng.

Cách dùng, liều lượng: Mỗi ngày dung 20-30g dạng thuốc sắc hay bột.

Chú ư: Cây Móng lưng rồng được bán ở một số chợ phía Bắc nước ta để chữa nhiều thứ bệnh khác nhau.

Loài Quyển bá tràng chim (Selaginella involvens Spring) cũng được dùng với cùng công dụng.

 

Tên khoa học: Prunus mome Sieb. et Zucc., họ Hoa hồng (Rosaceae). Cây được trồng ở nhiều địa phương để lấy quả.

Bộ phận dùng: Quả già đă chế muối (Mơ muối - Fructus Mume preparatus), Nhân hạt (Hạnh nhân - Semen Armeniacae amarum).

Thành phần hoá học: Thịt quả chứa acid hữu cơ, flavonoid, carotenoid. Nhân hạt ngoài dầu béo (35-40%) c̣n có chứa glycosid cyanogenic là amigdalin.

Công dụng: Mơ muối chữa ho, trừ đờm, tức thở, phù thũng.

Dầu hạt mơ (dầu hạnh nhân) được dùng làm thuốc bổ, thuốc nhuận tràng...

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 3-6g mơ muối, có thể dùng dạng thuốc sắc, thuốc hoàn...

 

MƠ LÔNG

Tên khác: Mơ tam thể

Tên khoa học: .Paederia tomentosa L.,, họ Cà phê (Rubiaceae). Cây mọc hoang khắp nơi và được trồng ở các bờ rào để làm thuốc, làm rau ăn.

Thành phần hoá học chính: Lá Mơ lông chứa tinh dầu, alcaloid, các acid béo.

Công dụng: Lá Mơ lông dùng để chữa lỵ trực trùng và lỵ amip. Chữa đau đại tràng, chữa ho.

Cách dùng, liều lượng: Dùng khoảng 50g lá Mơ lông, rửa sạch, thái nhỏ, trộn với trứng gà, bọc vào lá chuối đem nướng hoặc đặt rán trên chảo (không có mỡ) cho thơm. Ngày ăn 2-3 lần, trong 5-8 ngày.

 

 

MỘC HƯƠNG

Radix Saussureae lappae (Radix Aucklandiae)

Tên khác: Vân mộc hương, Quảng mộc hương.

Nguồn gốc: Dược liệu là rễ đă phơi hay sấy khô của cây Mộc hương (Saussurea lappa Clarke. = Aucklandia lappa Decne), họ Cúc (Asteraceae). Cây ưa khí hậu mát, nước ta có trồng cây này. Phần lớn dược liệu c̣n phải nhập.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, alcaloid, acid amin.

Công dụng: Chữa tiêu chảy, lỵ cấp, mạn tính, viêm đại tràng mạn, viêm loét dạ dày tá tràng. Chữa xơ gan, viêm thận...

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-6g dạng thuốc sắc hoặc bột, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Ghi chú: Trên thị trường sử dụng Mộc hương nam là vỏ cây Rụt (Ilex sp.), họ Nhựa ruồi (Aquifoliaceae). Một số tỉnh miền núi nước ta (Hà Giang, Lào Cai...) dùng cây Thổ mộc hương (Inula helenium L.) cần chú ư phân biệt.

 

MỘC QUA

Fructus Chaenomelis lagenariae

Nguồn gốc: Dược liệu là quả chín, bổ dọc phơi khô của cây Mộc qua (Chaenomeles lagenaria (Loisel.) Koidz. = Cydonia lagenaria Loisel), họ Hoa hồng (Rosaceae).

Bộ phận dùng: Quả.

Thành phần hoá học chính: Saponin, flavonoid, acid hữu cơ, đường, tanin.

Công dụng: Chữa phong thấp, đau nhức khớp, chân tay tê mỏi, đau nhức, ho lâu ngày không khỏi. Chữa thủy thũng, thổ tả, kiết lỵ.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g dạng thuốc sắc thường dùng phối hợp với các vị thuốc như Kỷ tử, Ngọc trúc, Ngũ gia b́, Độc hoạt, Đương quy...

 

  

MỘC TẶC

Tên khác: Cỏ tháp bút, Tiết cốt thảo, Mộc tặc thảo.

Tên khoa học: Equisetum debile Roxb.), họ Mộc tặc (Equisetaceae). Cây mọc hoang nhiều ở những vùng đất ẩm dọc khe, suối ở nhiều tỉnh nước ta.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Equiseti debilis) đă phơi hay sấy khô.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid, flavonoid, vitamin...

Công dụng: Chữa mắt đau lâu ngày, mắt bị màng che, các chứng bệnh về mắt khác. Chữa băng huyết, rong huyết kéo dài. Chữa viêm gan, viêm thận, viêm bàng quang. Chữa đi tiểu ra sỏi, ra cặn trắng. Làm thuốc lợi tiểu.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-12g kết hợp với thuốc khác, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán..

 

MỘC THÔNG

Caulis Clematidis

Nguồn gốc: Thân leo đă phơi hay sấy khô của cây Tiểu mộc thông (Clematis armandii Franch), hoặc cây Tú cầu đằng (Clematis montana Buch-Ham. ex DC.), họ Hoàng liên (Ranunculaceae).

Công dụng: Làm thuốc lợi tiểu, chữa tiểu tiện đau buốt, tiểu tiện ra huyết, phù thũng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 4-6g dưới dạng thuốc sắc; dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Mộc thông là vị thuốc vừa nhập của Trung Quốc, vừa khai thác trong nước. Người ta sử dụng nhiều cây thuộc các họ thực vật khác nhau để thu vị thuốc Mộc thông. Ví dụ: thân cành cây Mộc thông (Iodes ovalis Blume var. vitiginea (Hance) Gagnep = Iodes vitiginea (Hance) Hemsl.), họ Mộc thông (Phytocrenaceae); Cây Bạch mộc thông (Akebia quinata Decne), họ Lạc di (Lardizabalaceae).

 

 

MỘT DƯỢC

Myrrha

Nguồn gốc: Vị thuốc là gôm nhựa lấy ra từ cây Commiphora molmol Engler hay Commiphora abyssinica Engler, họ Trám (Burceraceae). Cây này chưa thấy ở nước ta. Vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Nhựa, tinh dầu, gôm.

Công dụng: Sinh cơ, chữa vết thương do chém, chặt, chữa phù thũng, điều kinh.

Làm hương liệu trong ngành sản xuất nước hoa.

Cách dùng, liều lượng: 0,2-2g mỗi ngày, dạng thuốc sắc, hoàn tán. Có thể có dạng cao dán vào chỗ nhọt sưng đau.

 

MUỒNG TRÂU

Tên khoa học: Cassia alata L., họ Đậu (Fabaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi, có nhiều ở miền Nam và miền Trung nước ta.

Bộ phận dùng: Lá (Folium Cassiae alatae), rễ (Radix Cassiae alatae), quả, thân.

Thành phần hoá học chính: Anthranoid.

Công dụng: Lá, rễ dùng để chữa hắc lào. Lá, quả, thân dùng làm thuốc nhuận tràng.

Cách dùng, liều lượng: Lá, cành, rễ phơi khô, sắc uống làm thuốc chữa táo bón, phù thũng, đau gan, vàng da. Kết hợp với các vị thuốc khác chữa thấp khớp, viêm thần kinh toạ. Ngày dùng 6-12g dược liệu khô. Lá, rễ không kể liều lượng giă nhỏ, ép lấy nước, bôi lên chỗ hắc lào đă cạo tróc vẩy.

Chú ư: Không dùng cho phụ nữ có thai.

 

MUỒNG TRUỔNG

Tên khác: Cây đ̣, Sẻn, Màn tàn, Sén lai, Hoàng mộc dài.

Tên khoa học: Zanthoxylum avicenniae (Lamk.) DC. syn. Fagara avicennae Lamk., họ Cam (Rutaceae). Cây mọc nhiều ở vùng rừng núi miền Bắc, miền Trung.

Bộ phận dùng: Rễ, lá và quả (Radix, Folium et Fructus Zanthoxyli Avicennae). Thu hái rễ, lá quanh năm, quả thu hoạch vào mùa thu đông. Lá dùng tươi, rễ quả thường dùng khô.

Thành phần hoá học chính: Hạt chứa dầu, quả và lá đều có chứa một ít tinh dầu có mùi thơm của citronellal.

Công dụng: Rễ, vỏ rễ, vỏ thân, chữa ghẻ, mẩn ngứa, lở loét. Rễ chữa viêm gan, vàng da, viêm thận thuỷ thũng, phong thấp đau nhức gân cốt. Dùng chữa đ̣n ngă tổn thương, đau thắt lưng, viêm tuyến vú, nhọt, và viêm mủ da. Quả dùng trị đau dạ dày, đau bụng.

Cách dùng, liều lượng: Liều dùng rễ 30-60g, quả 3-6g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác. Dùng ngoài lấy lá giă đắp hoặc nấu nước tắm rửa chỗ mẩn ngứa, ghẻ lở.

 

MỨC HOA TRẮNG

Tên khác: Cây sừng trâu, Mức lá to, Mức hoa trắng, Mộc hoa trắng, Thừng mực.

Tên khoa học: Holarrhena antidysenteria Wall, họ Trúc đào (Apocynaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Hạt, vỏ thân.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid (conesin, norconesin, holarhenin...), trong hạt c̣n có nhiều dầu béo.

Công dụng: Chữa lỵ amip, tiêu chảy, chữa giun sán.

Cách dùng, liều lượng: Thường dùng dưới dạng bột, cồn thuốc, cao lỏng. Bột vỏ thân ngày uống 10g, bột hạt ngày uống 3-6g. Cồn hạt (1/5) ngày 2-6g; Cao lỏng (1/1) ngày uống 1-3g.

Từ cây Thừng mực nước ta có sản xuất các chế phẩm: Viên Holanin (hỗn hợp alcaloid), thuốc tiêm conessin hydrochlorid hoặc conessin hydrobromid.

 

MƯỚP ĐẮNG

Tên khác:   Khổ qua.

Tên khoa học: Momordica charantia L., họ Bí (Cucurbitaceae). Cây được trồng khắp các tỉnh trong nước ta.

Bộ phận dùng: Quả, hạt.

Thành phần hoá học chính:

Quả chứa polyphenol, flavonoid, vitamin B1, C. Hạt chứa chất béo, chất đắng.

Công dụng: Chữa ho, sốt, tắm cho trẻ con trừ rôm sẩy, dùng trong các bài thuốc điều trị tiểu đường. Chữa viêm gan mạn tính, vàng da kéo dài, đầy bụng chậm tiêu, tiểu tiện ít, rối loạn tiêu hóa, đi ngoài phân lỏng. Chữa khí hư bạch đới, khí hư ra nhiều, đau lưng, mỏi gối, ù tai, hoa mắt.

Cách dùng, liều lượng: 2-3 quả nấu với nước tắm cho trẻ em, nấu canh (quả tươi), hăm uống như chè (quả khô).

 

 

 

NÁNG HOA TRẮNG

Tên khác: Lá náng.

Tên khoa học: Crinum asiaticum L., họ Thuỷ tiên (Amaryllidaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi và được trồng để làm cảnh.

Bộ phận dùng: Lá, thân hành.

Thành phần hoá học chính: Thân hành, lá chứa alcaloid (Lycorin, crinamin...).

Công dụng, cách dùng: Lá tươi giă nát, đắp chữa mụn nhọt, viêm da có mủ. Lá giă nát, hơ nóng, đắp chữa sưng, tụ máu do ngă, dùng để bó găy xương, bong gân, sai khớp. Thân hành giă, nướng đắp chữa thấp khớp, nhức mỏi. Lá khô sắc nước uống chữa trĩ ngoại...

 

NGẢI CỨU

Tên khác: Ngải diệp.

Tên khoa học: Artemisia vulgaris L. họ Cúc (Asteraceae). Cây mọc hoang nhiều nơi ở nước ta và nhiều nước khác.

Bộ phận dùng: Lá, cành non (Folium Artemisiae). Lá phơi khô, tán nhỏ, rây lấy phần mịn gọi là Ngải nhung.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, flavonoid.

Công dng: Điều kinh, an thai, chữa lỵ, thổ huyết, máu cam, băng huyết, lậu huyết, bạch đới, đau dây thần kinh, chữa tăng huyết áp. Lá khô dùng làm mồi cứu trên các huyệt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g, sắc hoặc hăm, chia làm 3 lần uống. Uống vào tuần lễ trước khi có kinh. Có thể dùng dạng bột, ngày 5-10g. Lá sao nóng chườm vào chỗ đau.

Chú ư: Các địa phương vùng núi có loài Ngải dại (Artemisia vulgaris L. var. indica (Willd) DC.) có thể dùng thay Ngải cứu.

 

NGHỆ (Khương hoàng)

Rhizoma Curcumae longae

 Nguồn gốc: Thân rễ phơi hay sấy khô của cây Nghệ (Curcuma longa L. = Curcuma domestica Valet.), họ Gừng (Zingiberaceae). Cây trồng nhiều nơi trong nước ta.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, curcumin.

Công dụng: Làm gia vị, chất màu. Chữa huyết ứ, phụ nữ kinh nguyệt không đều, bế kinh, sau khi đẻ huyết xấu không ra hết, ứ huyết sưng đau, chấn thương tụ máu, chữa đau dạ dày, dùng ngoài chữa vết thương lâu lên da non, vết bỏng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 2-10g, dạng bột hay thuốc sắc, dùng riêng hay kết hợp với các vị thuốc khác. Nghệ tươi giă nhỏ vắt lấy nước bôi chỗ lở loét, vết bỏng. Nghệ làm nguyên liệu chiết xuất curcumin.

Chú ư: Không dùng Khương hoàng cho phụ nữ có thai.

 

NGHỆ ĐEN

Rhizoma Curcumae aeruginosae

Tên khác: Nga truật, Nghệ tím.

Nguồn gốc: Là thân rễ đă phơi khô của cây Nghệ đen (Curcuma aeruginosa Rosc.), họ Gừng (Zingiberaceae). Cây mọc hoang ở nhiều địa phương nước ta.

 Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, tinh bột, coumarin.

Công dụng: Chữa đau bụng, đau ngực, ăn uống không tiêu, chấn thương tụ máu, bế kinh.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 3-6g, dạng thuốc sắc hay bột.

Chú ư: Cơ thể suy yếu, có thai không nên dùng.

Vị Nga truật của Trung Quốc (Rhizoma zedoaria) là thân rễ cây Nga truật (Curcuma zedoaria Rosc.).

 

 

 Chuyển lên đầu trang

NGHỂ

Herba Polygoni hydropipeis

Tên khác: Nghể răm, Rau nghể, Thuỷ liễu.

Nguồn gốc: Toàn cây phơi hay sấy khô của cây Nghể (Polygonum hydropiper L. = Persicaria hydropiper (L.) Spoch.), họ Rau răm (Polygonaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Thành phần hoá học chính: Anthranoid, flavonoid, tinh dầu, các acid hữu cơ, tanin.

Công dụng: Làm thuốc cầm máu, nhuận trang, thông tiểu, chữa giun, chữa rắn cắn.

Cách dùng, liều lượng: Dạng cao lỏng uống 30-40 giọt để cầm máu khi băng huyết trong sản khoa. Chữa rắn cắn: uống nước sắc ngọn lá Nghể với một số vị thuốc khác, lấy bă đắp lên chỗ rắn cắn.

 

NGỌC TRÚC

Rhizoma Polygonati officinalis

 Nguồn gốc: Thân rễ cây Ngọc trúc (Polygonatum officinale All. = Polygonatum vulgare Desf.), họ Thiên môn (Asparagaceae). Cây mọc hoang ở một số vùng núi nước ta.

 Thành phần hoá học: Đường, chất nhầy, flavonoid, saponin, các chất vô cơ...

 Công dụng: Chữa lao phổi, viêm màng phổi do lao, trị ho, táo kết, ra mồ hôi trộm, cơ thể suy nhược. Chữa thấp khớp, chữa đau mắt đỏ.

 Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g, dạng thuốc sắc, hoàn, tán, rượu thuốc, thường dùng phối hợp Ngọc trúc với các vị thuốc khác.

Chú ư: Cần chú ư phân biệt cây Ngọc trúc với các loài Hoàng tinh (Polygonatum kingianum Coll et Hemsl., Polygonatum sibiricum Red.) (xem 186. Hoàng tinh).

 

 

NGÔ THÙ DU

Fructus Evodiae

Nguồn gốc: Là quả đă chế biến khô của cây Ngô thù (Evodia rutaecarpa (Juss.) Benth.), họ Cam (Rutaceae). Cây mọc hoang ở một số tỉnh phía Bắc nước ta. Dược liệu c̣n phải nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, alcaloid (evodiamin, rutaecarpin, evocarpin...)

Công dụng: Ngô thù du chữa đau bụng lạnh, ăn không tiêu, nôn mửa, tiêu chảy, thủy thũng. Chữa viêm loét dạ dày tá tràng. Chữa lỵ cấp tính.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 2-4g dạng thuốc sắc, hoàn, tán. Thường dùng phối hợp Ngô thù du với các vị thuốc khác.

 

NGŨ BỘI TỬ

Galla chinensis

Nguồn gốc: Vị thuốc là tổ đă phơi hay sấy khô của sâu Schlechtendalia chinensis Bell., kư sinh trên cây Muối (Rhus sinensis Mill.), họ Đào lộn hột (Anacardiaceae). Một số tỉnh ở miền Bắc nước ta có sản xuất dược liệu này.

Thành phần hoá học chính: Tanin (50-70%).

Công dụng: Ngũ bội tử làm thuốc săn da, chữa đau bụng tiêu chảy, chữa lỵ, xuất huyết, nôn ra máu, chảy máu cam, ra nhiều mồ hôi, chữa trẻ em đái dầm, ho, lở loét...làm nguyên liệu chế tanin.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-8g, dạng thuốc sắc, bột hoặc viên. Dung dịch Ngũ bội tử 5-10% ngậm điều trị các vết loét trong miệng. Nước sắc Ngũ bội tử dùng ngoài để rửa trị lở loét, bỏng.

 

 

 

NGŨ GIA B̀ CHÂN CHIM

Tên khoa học: Schefflera heptaphylla (L.) Harms = Schefflera octophylla Harms., họ Ngũ gia (Araliaceae). Cây mọc hoang và trồng ở nhiều địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Vỏ thân.

Thành phần hoá học chính: Saponin, tanin, tinh dầu.

Công dụng: Vỏ Ngũ gia b́ chân chim sắc nước uống thay chè làm ăn ngon cơm, chữa đau lưng, nhức xương, tê bại chân tay, phù thũng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-20g dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu.

Ghi chú: Một số vùng ở Nghệ an dùng lá Ngũ gia b́ chân chim với tên lá Lằng để chữa nhiều bệnh khác nhau.

 

NGŨ GIA B̀ GAI

Tên khác: Ngũ gia hương, Tam gia b́.

Tên khoa học: Acanthopanax trifoliatus (L.) Merr., Acanthopanax aculeatus Seem, họ Ngũ gia (Araliaceae). Cây mọc hoang, được trồng ở các tỉnh miền núi nước ta.

Bộ phận dùng: Vỏ rễ, vỏ thân (Cortex Radicis et Cortex Acanthopanacis), cành lá.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, saponin.

Công dụng: Chữa cảm mạo sốt cao, ho, đau ngực, đau lưng, phong thấp đau nhức khớp. Chữa viêm tuyến vú, nứt kẽ chân, mụn nhọt. Làm thuốc bổ nâng cao sức khoẻ, làm tăng trí nhớ.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 30-60g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

Ghi chú: Nước ta có loài Ngũ gia b́ hương (Acanthopanax gracilistylus W.W. Sm.) vỏ thân, vỏ rễ có saponin, chất thơm dùng với công dụng như Ngũ gia b́ gai.

 

 

 NGŨ LINH CHI

Faeces Trogopterori

Tên khác: Thảo linh chi, Ngũ linh tử.

Nguồn gốc: Dược liệu là phân của loài Sóc bay Trogopterus xanthipes Milne-Edwrds, thuộc họ Sóc bay (Petauristidae). Loài Sóc này chưa thấy ở nước ta.

Thành phần hoá học chính: Chất nhựa, ure, acid uric.

Công dụng: Chữa kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng, đẻ xong huyết xấu không ra hết sinh đau bụng, ngực đau, trẻ con bị cam.

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 6-12g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc viên.

 

NGŨ VỊ TỬ

Fructus Schisandrae

Nguồn gốc : Vị thuốc là quả chín đă phơi hay sấy khô của cây Ngũ vị Bắc (Schisandra chinensis Baill.), họ Ngũ vị (Schisandraceae). Cây mọc hoang ở các nước phương Bắc, được trồng ở Trung Quốc. Nước ta chưa thấy cây này.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, acid hữu cơ, vitamin C, đường, chất béo.

Công dụng: Chữa ho, miệng khô, khát nước, mệt mỏi, di tinh, tả lỵ lâu ngày, mồ hôi trộm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 2-4g (có thể 12g). Dạng thuốc sắc, cồn, bột, viên.

Ghi chú: Một số địa phương nước ta có cây Nắm cơm (Kadsura japonica L.), họ Ngũ vị (Schisandraceae), quả gọi là Nam ngũ vị tử

 

 

 

NGƯ TINH THẢO

Tên khác: Lá giấp, Diếp cá.

Tên khoa học: Houttuynia cordata Thunb., họ Lá giấp (Saururaceae). Cây mọc hoang, được trồng ở vườn để làm thuốc và làm rau.

Bộ phận dùng: Toàn cây hoặc phần trên mặt đất (Herba Houttuyniae).

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, alcaloid, flavonoid.

Công dụng, liều dùng: Chữa viêm phổi, apxe phổi, chữa các loại trĩ, ḷi dom, kiết lỵ. Chữa viêm ruột, viêm xoang nhiễm khuẩn, đau mắt đỏ, bí tiểu tiện, kinh nguyệt khó khăn, không đều. Ngày dùng 6-12g khô hoặc 20-40g tươi dạng thuốc sắc. Dùng ngoài lấy lá tươi giă nhỏ đắp.

 

 NGƯU BÀNG TỬ

Fructus Arctii

Tên khác: Đại lực tử, Hắc phong tử.

Nguồn gốc : Vị thuốc là quả chín đă phơi khô của cây Ngưu bàng (Arctium lappa L.), họ Cúc (Asteraceae). Vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Chất béo, alcaloid.

Công dụng: Chữa cảm sốt, viêm họng, viêm loét lợi, viêm phổi, viêm tai, chữa ban sởi không mọc được, chữa quai bị, chữa phù thận cấp...

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-10g, dạng thuốc sắc, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Ghi chú: Rễ Ngưu bàng được dùng dưới dạng thực phẩm dinh dưỡng để thông tiểu, chữa thấp khớp, tiểu đường, chữa trứng cá, mụn nhọt...

 

 

 NGƯU HOÀNG

Calculus Bovis

Nguồn gốc: Sỏi mật khô của Ḅ (Bos taurus domesticus Gmelin), thuộc họ Ḅ (Bovidae).

Thành phần hoá học chính: Acid cholic, cholesterol, acid béo, este phosphoric...

Công dụng: Ngưu hoàng dùng để chữa sốt cao, co giật, chữa phát cuồng, kinh phong. Chữa mụn nhọt viêm họng, sưng họng, viêm miệng, lưỡi.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 0,15-0,35g dạng thuốc bột hoặc hoàn tán.

Chú ư: Sạn, sỏi mật của con Trâu (Bubalus bubalis L.) cũng được chế biến, sử dụng như sỏi mật của ḅ.

Phụ nữ có thai không được dùng Ngưu hoàng.

 

 NGƯU TẤT

Radix Achiranthis bidentatae       

Tên khác: Hoài ngưu tất.

Nguồn gốc: Dược liệu là rễ đă chế biến phơi sấy khô của cây Ngưu tất (Achyranthes bidentata Blume.), họ Rau dền (Amaranthaceae). Cây được trồng ở nhiều địa phương nước ta.

Thành phần hoá học chính: Saponin triterpenoid, hydratcarbon.

Công dụng: Dùng sống trị cổ họng sưng đau, ung nhọt, chấn thương tụ máu, bế kinh, tiểu tiện ra máu, viêm khớp. Tẩm rượu trị đau lưng, mỏi gối, chân tay co quắp, tê bại.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 3-9g, dạng thuốc sắc. Viên Bidentin dùng theo y học hiện đại.

Chú ư: Phụ nữ có thai, đang hành kinh không được dùng.

Ghi chú: Ngưu tất nam là rễ cây Cỏ xước (Achyranthes aspera L.), cùng họ Rau dền, mọc hoang nhiều nơi ở nước ta có thể dùng thay vị Ngưu tất.

 

NHA ĐẢM TỬ

Fructus Bruceae

Nguồn gốc: Quả đă phơi hay sấy khô của cây Sầu đâu cứt chuột, c̣n gọi là cây Xoan rừng (Brucea javanica Merr.= Brucea sumatrana Roxb.), họ Thanh thất (Simarubaceae). Cây mọc hoang ở nhiều vùng rừng núi nước ta.

Thành phần hoá học chính: Dầu béo, các chất đắng, saponin...

Công dụng: Chữa lỵ amip, sốt rét, viêm ruột, trĩ ngoại.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-16g dạng thuốc sắc hoặc bột.

Chú ư: Cây Sầu đâu cứt chuột c̣n gọi là cây Khổ sâm cho quả, cây xoan rừng, Sầu đâu rừng.

 

 NHÂN SÂM

Radix Ginseng

Tên khác: Đường sâm, Hồng sâm, Sâm Cao ly.Viên sâm.

Nguồn gốc: Dược liệu là rễ đă chế biến của cây Nhân sâm (Panax ginseng C.A.Mey.), họ Ngũ gia (Araliaceae). Nước ta chưa trồng được cây này. Dược liệu nhập từ các nước khác.

Thành phần hoá học chính: Saponin triterpenoid, vitamin, đường, tinh bột.

Công dụng: Thuốc bổ, chữa bệnh thần kinh suy nhược, ăn ít, ho suyễn, nôn mửa, hồi hộp, sợ hăi.

Cách dùng, liều lượng: 2-6g một ngày. Dạng thuốc bột, thuốc sắc, cao lỏng, rượu thuốc.

Chú ư: Không dùng khi đang đại tiện lỏng, người khó ngủ không nên dùng vào buổi chiều tối. Nhân sâm phản Lê lô, Ngũ linh chi.

 

 

NHÂN TRẦN

Herba Adenosmatis caerulei

Nguồn gốc: Thân, cành mang lá, hoa đă phơi khô của cây Nhân trần (Adenosma caeruleum R.Br), họ Hoa mơm chó (Scrophulariaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, flavonoid.

Công dụng: Chữa bệnh hoàng đản, viêm gan, tiểu vàng, tiểu đục, dùng cho phụ nữ sau khi đẻ (dùng riêng hay phối hợp Ích mẫu) để giúp tiêu hoá, ăn ngon cơm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 8-20g, dạng thuốc sắc, thuốc viên, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Người ta c̣n dùng thân cành mang lá, hoa của cây Bồ bồ, c̣n gọi là Nhân trần bồ bồ (Adenosma indianum (Lour.) Merr.) với công dụng như Nhân trần.

 

 NHÓ ĐÔNG

Tên khoa học: Psychochia morindoides Hutch, họ Cà phê (Rubiaceae). Cây mọc hoang ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc nước ta.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất.

Thành phần hoá học chính: Phần trên mặt đất của cây Nhó đông chứa anthranoid, các acid hữu cơ, carbohydrat...

Công dụng: Được dùng theo kinh nghiệm dân gian của một số dân tộc phía Bắc để chữa viêm gan virus, vàng da và hội chứng khi bị bệnh gan.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 8-20g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

 

 

NHŨ HƯƠNG

Olibanum

Nguồn gốc: Là chất nhựa dầu lấy từ cây Nhũ hương (Pistacia lentiscus L.), họ Đào lộn hột (Anacardiaceae). Cây này chưa thấy ở nước ta. Dược liệu phải nhập.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, một số acid thơm (masticic, masticonic).

Công dụng: Nhũ hương dùng để chế cao dán chữa ung nhọt sưng đau. Khi uống Nhũ hương xuất tiết qua đường hô hấp và tiết niệu nên có tác dụng chữa viêm phế quản, ho, bí tiểu tiện. Nhũ hương chế thành thuốc ngậm chữa viêm miệng, sâu răng, làm thuốc chữa đau bụng. Dung dịch cồn Nhũ hương có tác dụng cầm máu ở những vết đỉa cắn. Nhũ hương c̣n dùng trong công nghiệp chế vecni.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 3-6g dạng thuốc bột, dạng cao dán nhọt, dạng dung dịch trong cồn.

 

NHỤC ĐẬU KHẤU

Semen Myristicae

Nguồn gốc: Vị thuốc là nhân hạt đă phơi khô của cây Nhục đậu khấu (Myristica fragrans Houtt.), họ Nhục đậu khấu (Myristicaceae). Cây được trồng ở miền Nam nước ta.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu (8-5%), chất béo (40%) gọi là bơ nhục đậu khấu, tinh bột, nhựa, protid.

Công dụng: Chữa đau bụng do lạnh, đầy chướng, tiêu chảy, trẻ em nôn ra sữa, kích thích tiêu hoá.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 0,5g bột hạt; 0,03ml tinh dầu.

Chuyển lên đầu trang

 

 

NHỤC THUNG DUNG

Herba Cistanchis

Nguồn gốc : Vị thuốc là toàn thân cây có mang vẩy của một số cây thuộc chi Cistanche như Cistanche deserticola Y.G. Ma, (cây Thung dung); Cistanche ambigua G. Beck (Bge) (cây Mễ nhục thung dung). Cistanche salsa (C.A. Mey.) G.Bek. (cây Nhục thung dung), họ Nhục thung dung (Orobranchaceae). Cây mọc hoang ở một số tỉnh của Trung Quốc. Vị thuốc này ta hoàn toàn phải nhập.

Thành phần hoá học chính: Nhục thung dung chứa hydrat carbon, iridoid glycosid, vitamin.

Công dụng: Thuốc bổ trong những trường hợp liệt dương, lưng gối lạnh đau.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 8-12g dưới dạng thuốc sắc, thuốc hoàn, ngâm rượu.

Ghi chú: Dược liệu thu hoạch phơi khô trên đất cát gọi là Điềm đại vân, loại ngâm muối 1 năm phơi khô gọi là Diêm đại vân. Cần lưu ư t́nh trạng bảo quản vị thuốc này.

NHỰA CÓC

Secretio Bufonis

Tên khác: Thiềm tô.

Nguồn gốc: Nhựa lấy từ tuyến sau tai và tuyến trên da của con Cóc (Bufo bufo Lin.), họ Cóc (Bufonidae).

Thành phần hoá học chính: Glycosid tim.

Công dụng: Chữa sốt cao, mê man, co giật. Là thành phần trong nhiều đơn thuốc chữa bệnh hiểm nghèo.

Cách dùng, liều lượng: Thiềm tô ngày uống 1mg đến 15mg dưới dạng bột hay viên (Uống theo chỉ dẫn của thầy thuốc). Nhân dân thường dùng thịt cóc để chữa bệnh cho trẻ em gầy yếu, c̣i xương, chậm lớn, chậm mọc răng, ngày 2-3g thịt cóc khô. (Chế phẩm Bột cóc Baby-Công ty dược Hải pḥng).

Chú ư: Trứng cóc và nhựa cóc rất độc, chế biến thịt cóc phải có chuyên môn, cẩn thận. Thực tế có nhiều trường hợp tử vong do ăn phải trứng cóc, nhựa cóc. 

 

NIỆT GIÓ

Tên khác: Dó chuột, Địa miên căn, Tiêu sơn dược.

Tên khoa học: Wikstroemia indica C.A. Mey., họ Trầm (Thymeleaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Rễ, vỏ thân.

Thành phần hoá học chính: Các acid amin, coumarin. Wikstroemin, Aretigemin

Công dụng: Kháng khuẩn, tiêu u bướu, chữa viêm phổi, viêm thận, chữa xơ gan cổ trướng, rắn cắn...

Cách dùng, liều lượng: Rễ cây rửa sạch, phơi khô, trước khi dùng đun sôi khoảng 3 giờ, khi đun mở nắp để giảm độc tố, ngày dùng 8-12g.

Ghi chú: Không dùng cho phụ nữ có thai.

 

NỌC SỞI

Tên khác: Điền cơ hoàng, Cây ban, Địa nhĩ thảo.

Tên khoa học: Hypericum japonicum Thumb., họ Ban (Hypericaceae). Cây mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây

Thành phần hoá học chính:

Các glycosid, Phloroglucinol, 1-methoxy-xanthone, 3,4-epoxy-5-hydroxy-1-cyclohexenecarboxylic acid.

Công dụng: Chữa viêm gan vàng da, viêm thận cấp, chữa sởi ở trẻ em, kích thích tiêu hoá, chữa viêm niêm mạc miệng, chữa vết thương do đỉa cắn, sâu răng, ho...

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 40-60g dạng nước sắc. Dùng ngoài không kể liều lượng.

Chuyển lên đầu trang

 

Ô DƯỢC

RadixLinderae

Nguồn gốc: Vị thuốc là rễ khô của cây Ô dược (Lindera myrrha (Lour.) Merr. = Lindera trinervia Juss.), họ Long năo (Lauraceae). Cây mọc hoang trong các vùng rừng núi nước ta.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid, tinh dầu.

Công dụng: Chữa đau bụng, đầy hơi, nôn mửa, đau dạ dày. Chữa cam tích ở trẻ em. Chữa đau xương khớp, đi lại khó khăn, toàn thân tê mỏi, váng đầu chóng mặt. Chữa thoát vị bẹn, chữa đau bụng kinh.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 2-6g, dạng thuốc sắc hay bột, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Ghi chú: Ô dược Trung Quốc (Thiên thai ô dược) là rễ cây Lindera strychnifolia Will. họ Long năo (Lauraceae).

 

Ô ĐẦU - PHỤ TỬ

Radix Aconiti

Tên khác: Gấu tầu, Ấu tầu.

Nguồn gốc: Rễ đă phơi hay sấy khô của cây Ô đầu, gồm một số loài thuộc chi Aconitum, như (Aconitum fortunei Hemsl., Aconitum chinense Paxt., Aconitum carmichaeli Dobx., họ: Hoàng liên (Ranunculaceae). Cây mọc hoang và được trồng tại các vùng núi cao phía Bắc nước ta. Dược liệu Ô đầu, Phụ tử thu từ các loài khác nhau nên h́nh dáng, hàm lượng alcaloid rất khác nhau. Ô đầu (Radix Aconiti) là rễ củ mẹ phơi hay sấy khô. Phụ tử (Radix Aconiti lateralis praeparata) là rễ củ con đă chế biến và phơi sấy khô.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid 0,5%-0,7%. (aconitin, aconin, benzoylaconin).

Công dụng: Phụ tử sống chủ yếu dùng ngoài để xoa bóp khi đau nhức, mỏi chân tay, đau khớp bong gân. Dùng củ thái nhỏ ngâm cồn bôi vào chỗ đau (không bôi vào vết thương hở, mắt mũi, cấm uống).

Phụ tử chế được phân thành các loại tuỳ theo cách chế biến:

- Diêm phụ là phụ tử chế với magnesi clorid (đảm ba), muối ăn, nước. Diêm phụ dùng trong các bài thuốc chữa chân tay co quắp, bán thân bất toại.

- Bạch phụ phiến là phụ tử chế với magnesi clorid đến hết cay tê, xông diêm sinh, chủ yếu làm thuốc trừ đờm.

- Hắc phụ là phụ tử chế với magnesi clorid, đường đỏ, dầu hạt cải đến hết cay tê, làm thuốc bổ mệnh môn hoả, thuốc hồi dương cứu nghịch.

Cách dùng, liều lượng:

Phụ tử sống dùng dưới dạng cồn Ô đầu 10% để dùng ngoài xoa bóp (thuốc độc bảng A).

Phụ tử chế 4-12g mỗi ngày, dạng thuốc sắc.        

 

Ô TẶC CỐT

Os Sepiellae seu Sepiae

Tên khác: Mai mực, Hải phiêu tiêu, Cá mực, Mực mai, Mực ván, Mực nang, Ô tặc ngư.

Nguồn gốc: Dược liệu là mai rửa sạch phơi hay sấy khô của con Cá mực (Sepia esculenta Houle), họ Cá mực (Sepidae).

Thành phần hoá học chính: Các muối calci (calci carbonat, calci phosphat), acid hữu cơ, natri chlorid, vitamin...

Công dụng: Dùng chữa đau loét dạ dày tá tràng, chữa loét mũi, viêm tai chảy nước, cầm máu, lao lực.

Cách dùng, liều lượng: 4-8g một ngày, dạng thuốc bột hay thuốc viên.

Chú ư: Các bộ phận khác của con mực như thịt mực, nước màu đen trong túi các mực cũng được dùng làm thuốc.

 

 

PHAN TẢ DIỆP

Tên khoa học: Cassia angustifolia Vahl. và Cassia acutifolia Delile, họ Đậu (Fabaceae). Cây phân bố ở vùng nhiệt đới Châu Phi, gần đây được nhập và trồng ở Việt Nam.

Bộ phận dùng: Lá chét, quả (Sene).

Thành phần hoá học chính: Thành phần chủ yếu trong lá chét, quả là anthranoid (Sennosid A,B,C,D), ngoài ra c̣n có flavonoid, acid hữu cơ.

Công dụng: Liều thấp nhuận tràng, liều cao có tác dụng tẩy mạnh. Phan tả diệp c̣n có tác dụng cầm máu, kháng khuẩn, ức chế sự phát triển của nấm gây bệnh ngoài da.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 1-2g làm thuốc nhuận tràng, 3-4g làm thuốc tẩy. Dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc trà hăm.

Chú ư: Phan tả diệp có trong thành phần của một số trà giảm béo. Dùng thận trọng cho người có thai, cho con bú.

 

PHÈN CHUA

Alumen

Tên khác: Minh phàn, Bạch phàn.

Nguồn gốc: Muối kép nhôm kali sulfat (KAl(SO4)2.12 H2O, khi rang lên có dạng xốp, nhẹ gọi là Phèn phi hay Khô phàn.

Công dụng: Làm thuốc cầm máu, chữa ho ra máu, các loại xuất huyết, chữa đau răng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 0,3-1g Phèn phi, có thể uống tới 2-4g. Dùng ngoài không kể liều lượng.

 

PH̉NG KỶ

Radix Stephaniae tetrandrae

Tên khác: Phấn pḥng kỷ.

Nguồn gốc: Vị thuốc là rễ phơi sấy khô của cây Phấn pḥng kỷ (Stephania tetrandra S. Moore.), họ Tiết dê (Menispermaceae). Vị thuốc nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học: Alcaloid nhân isoquinolein

Công dụng: Chữa đau nhức ḿnh mẩy, thuỷ thũng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g, dạng thuốc sắc, hoàn.

Ghi chú: Một số vị thuốc mang tên Pḥng kỷ

- Quảng pḥng kỷ (Radix Aristolochiae) là rễ của cây Aristolochia westlandi Hemsl., thuộc họ Mộc hương (Aristolochiaceae).

- Hán trung pḥng kỷ là rễ cây Aristolochia heterophylla Hemsl., họ Mộc hương (Aristolochiaceae).

- Mộc pḥng kỷ là rễ cây Cocculus trilobus DS., họ Tiết dê (Menispermaceae).

- Nam pḥng kỷ (Radix Momordicae) là rễ cây Gấc Momordica cochinchinensis (Lour) Spreng, họ Bí (Cucurbitaceae).

 

PH̉NG PHONG

Radix Ledebouriellae

Nguồn gốc: Rễ đă phơi hay sấy khô của cây Pḥng phong (Ledebouriella seseloides Wolf.), họ Cần (Apiaceae). Vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Rễ Pḥng phong chứa tinh dầu, coumarin, các dẫn chất phenol.

Công dụng: Giải cảm, chữa đau nửa đầu, ra mồ hôi trộm khi ngủ, trừ phong thấp, thuốc tránh tái phát cơn hen, chữa đau dây thần kinh liên sườn, chữa rong huyết do nhiễm khuẩn...

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường phối hợp với các vị thuốc khác.

Ghi chú: Pḥng phong là vị thuốc được thu từ nhiều cây khác nhau Xuyên Pḥng phong (Radix Ligustici brachylobi) từ cây Xuyên Pḥng phong (Ligusticum brachylobum Franch), Vân Pḥng phong c̣n gọi là Trúc diệp Pḥng phong (Radix Seseli) từ cây Seseli delavayi Franch. Loài Siler divaricatum Benth. et Hook. cũng cho vị thuốc Pḥng phong.

 

 

PHÚC BỒN TỬ

Nguồn gốc: Dược liệu là quả chín phơi khô của cây Phúc bồn tử Rubus sp., họ Hoa hồng (Rosaceae). Vị thuốc phần lớn nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Acid hữu cơ, vitamin.

Công dụng, cách dùng: Dùng phối hợp với các vị thuốc trong bài thuốc bổ thận, chữa các chứng đi tiểu nhiều, đái tháo, đái nhạt, liệt dương, di tinh.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g dạng thuốc sắc.

Chú ư: Ở một số vùng núi nước ta có nhiều loại Rubus có thể khai thác làm phúc bồn tử.

 

QUA LÂU NHÂN

Semen Trichosanthis

Nguồn gốc: Hạt đă phơi hay sấy khô của cây Qua lâu (Trichosanthes kirilowii Maxim) hoặc cây Song biên qua lâu (Trichosanthes rosthornii Harms), họ Bí (Cucurbitaceae). Cây mọc hoang ở một số vùng núi nước ta.

Thành phần hoá học chính: Saponin triterpenoid, các sterol, acid béo, protein...

Công dụng: Qua lâu nhân chữa ho lâu ngày, ho có đờm, sưng yết hầu, nhuận tràng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 9-15g dạng thuốc sắc.

Ghi chú: Quả phơi khô là Qua lâu (Fructus Trichosanthis). Vỏ quả - Qua lâu b́ (Pericarpium Trichosanthis), Qua lâu b́ chữa ho, thổ huyết, sốt nóng, phù thũng, vàng da. Rễ gọi là Thiên hoa phấn (xem 362. Thiên hoa phấn).

  

QUẾ

Tên khoa học: Cinnamomum obtusifolium Nees. và một số loài Quế khác (C. cassia Blume, Cinnamomum zeylanicum Breyn.)..., họ Long năo (Lauraceae). Cây mọc hoang và được trồng nhiều ở một số vùng miền núi nước ta.

Bộ phận dùng: Vỏ thân (Quế nhục - Cortex Cinnamomi), cành (Quế chi - Ramulus Cinnamomi).

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, trong đó chủ yếu là aldehyd cinamic.

Công dụng: Quế nhục dùng chữa bệnh do lạnh như chân tay lạnh, đau bụng lạnh, phong tê bại, tiêu chảy. C̣n dùng cho phụ nữ khó thai nghén. Quế chi chữa cảm lạnh, sốt không ra mồ hôi. Tinh dầu thường được cất từ dư phẩm khi chế biến, dùng làm thuốc và trong kỹ nghệ hương liệu.

Cách dùng, liều lượng: 1-4g/ngày, dạng thuốc sắc, hăm, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

 

QUY BẢN

Carapax et Plastrum Testudinis

 Tên khác: Qui giáp, Yếm rùa, Mai rùa.

Nguồn gốc: Mai và yếm đă phơi khô của con Rùa đen (Chinemys reevesii Gray.), họ Rùa (Testudinidae).

Thành phần hoá học: Chất keo, lipid, muối calci.

Công dụng: Quy bản là vị thuốc bổ thận, chữa đau nhức trong xương, di tinh, khí hư, bạch đới, c̣n dùng chữa băng huyết, ho lâu ngày, trẻ em gầy yếu.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 12-24g Quy bản dạng thuốc sắc, viên hay dạng bột (Sao Quy bản với cát cho gịn, tán thành bột). Quy bản nấu thành cao (Colla carapacis Testudinis) gọi là Cao qui bản hay Quy bản giao mỗi ngày uống 10-15g, chia làm 3 lần.

 

 

RAU DỪA NƯỚC

Tên khác: Du long thái, Thuỷ long, Rau dừa trâu, Thuỵ thái.

Tên khoa học: Jussiae repens L. = Ludwigia adscendens (L.) Hara, họ Rau dừa nước (Oenotheraceae). Cây mọc hoang, rất phổ biến ở các ao đầm, bờ ruộng ẩm ướt.

Bộ phận dùng: Thân, lá (Herba Ludwigia adscendens).

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, tanin, chất nhầy.

Công dụng: Chữa vết thương phần mềm, ứ máu, sưng tấy, chữa bỏng. Chữa sốt, lỵ ra máu, dùng ngoài chữa rắn cắn. Chữa viêm cầu thận cấp, các chứng tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu ra máu, tiểu ra dưỡng trấp và các loại tiểu đục.

Cách dùng, liều lượng: Mỗi ngày 100-200g Rau dừa nước khô, dùng dưới dạng thuốc sắc dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

RAU ĐẮNG

Tên khác: Biển súc, Cây càng tôm, Cây xương cá.

Tên khoa học: Polygonum aviculare L., họ Rau răm (Polygonaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi khắp nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Polygoni avicularis).

Thành phần hoá học chính: Rau đắng chứa tinh dầu, Flavonoid, tanin, nhựa, anthranoid...

Công dụng: Chữa viêm bàng quang cấp tính, làm thuốc lợi tiểu, chữa tiểu tiện khó, tiểu buốt, sỏi thận.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g (khô) dưới dạng thuốc sắc, có thể dùng tươi hoặc sao khô rồi sắc uống.

Ghi chú: Nhiều lương y sử dụng toàn cây Thài lài tía (Zebrina pendula Schnizl.), họ Thài lài (Commelinaceae) thay thế cho vị Biển súc.

 

 

 

RAU ĐẮNG BIỂN

Tên khác: Rau sam trắng, Sam trắng, Cây ruột gà.

Tên khoa học: Bacopa monniera (L.) Pennell. Syn. Herpestis monieri (L.) Rothm., họ Hoa mơm chó (Scrophulariaceae). Cây mọc hoang ở nhiều vùng biển nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây (Herba Bacopae Monnieri). Thu hái toàn cây quanh năm, rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô.

Thành phần hoá học chính: Saponin, alcaloid.

Công dụng: Dùng chữa xích, bạch lỵ (lỵ ra máu, mủ), chữa mắt đỏ sưng đau. Chữa nhức mỏi tê bại, đ̣n ngă tổn thương. Chữa viêm gan vàng da (thay vị rau má), chữa ho, hen suyễn, động kinh, trị rắn cắn. Dùng ngoài da tắm trị ghẻ.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 20-30g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

RAU MÁ

Tên khoa học: Centella asiatica (L.) Urb. Syn. Hydrocotyle asiatica L., họ Cần (Apiaceae). Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Cả cây (Herba Centellae), dùng tươi hoặc phơi sấy khô.

Thành phần hoá học chính: Saponin triterpenoid (acid asiatic, asiaticosid), tinh dầu, flavonoid (kaemferol, quercetin), alcaloid, steroid, tanin...

Công dụng: Rau má làm thuốc giải nhiệt, giải độc, thông tiểu. Chữa sốt, sởi, nôn ra máu, chảy máu cam, lỵ, tiêu chảy, táo bón, vàng da, mụn nhọt...

Cách dùng: Ngày 30-40g cây tươi giă nát, thêm nước uống hoặc sắc. Đắp ngoài chữa tổn thương do ngă, gẫy xương, bong gân, ung nhọt. Rau má c̣n được sử dụng rộng răi làm rau ăn và nước uống giải khát.

 

 

 

RAU MUỐNG BIỂN

Tên khoa học: Ipomoea biloba Forsk., họ B́m b́m (Convolvulaceae). Cây mọc hoang khắp ven biển nước ta.

Bộ phận dùng: Rễ, lá.      

Thành phần hoá học chính: Toàn cây có chất nhầy.

Công dụng: Rễ Rau muống biển thái lát, phơi khô sắc nước uống trị phong thấp tê mỏi, làm thuốc thông tiểu tiện, chữa phù thũng, trị rắn cắn.

Lá Rau muống biển giă đắp trị ung nhọt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 8-16g dưới dạng thuốc sắc, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác. Nhai nuốt nước, bă đắp chữa rắn cắn, giă đắp chữa ung nhọt.

 

RAU SAM

Tên khác: Mă xỉ hiện.

Tên khoa học: Portulaca oleracca Lin, họ Rau sam (Portulacaceae). Cây mọc hoang ở những nơi ẩm ướt trong nước ta và nhiều nước khác.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Portulacae).

Thành phần hoá học chính: Rau sam chứa vitamin A, C, tanin, saponin và men ureaza.

Công dụng: Nước sắc Rau sam dùng chữa lỵ trực trùng, giun kim, giun đũa, chữa mụn nhọt, làm thuốc chữa đầy bụng, khó tiêu, lợi tiểu chữa tiểu buốt, tiểu ra máu. Thân, lá được sử dụng làm rau ăn.

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 250g tươi (tương đương 50g khô). Dạng thuốc sắc. Trẻ em từ 6 tháng trở lên, uống với liều 50g tươi. Dùng ngoài giă đắp lên mụn nhọt.

 

 

 RÁY

Tên khác: Ráy dại, Dă vu.           

Tên khoa học: Alocasia odora (Roxb.) C. Coch, họ Ráy (Araceae). Cây mọc hoang ở những nơi ẩm ướt trong nước ta và nhiều nước khác.

Bộ phận dùng: Thân rễ.

Thành phần hoá học chính: Tinh bột, chất gây ngứa.

Công dụng: Thân rễ Ráy dùng chế cao dán mụn nhọt, chữa cảm không ra mồ hôi.

Cách dùng, liều lượng: Ráy tươi gọt sạch vỏ giă nát cùng với Nghệ tươi, nấu nhừ trong dầu vừng, thêm dầu thông và sáp ong khuấy cho tan. Để nguội phết lên giấy, dán vào nơi mụn nhọt. Dùng thân rễ Ráy giă nát, hơ nóng gói vào trong vải đánh như đánh gió để làm ra mồ hôi.

 

RÁY GAI

Tên khác: Chóc gai, Mớp gai, Rau mác gai, Sơn thục gai.

Tên khoa học: Lasia spinosa (L.) Thw. Syn. Dracontium spinosum L., họ Ráy (Araceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong cả nước, thường mọc thành đám ven bờ ao, bờ suối.

Bộ phận dùng: Thân rễ, rửa sạch, phơi khô. Khi dùng, ngâm nước phèn và Gừng, đồ mềm, thái mỏng, sao vàng.

Thành phần hoá học chính: Toàn cây chứa saponin triterpenoid, thân rễ chứa nhiều tinh bột.

Công dụng: Thân rễ dùng chữa viêm thận phù thũng, đau nhức các khớp xương, đau nhức lưng, đau nhức đầu, các bệnh về gan, viêm gan nhẹ, xơ gan cổ trướng. C̣n dùng chữa ho và viêm họng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 12-20g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

  

RÁY LEO LÁ RÁCH

Tên khác: Lân tơ uyn, Đuôi phượng, Dây sống rắn.       

Tên khoa học: Raphydophora decursiva (Roxb) Schott, họ Ráy (Araceae). Cây mọc hoang trên các vùng núi đá vôi và trong rừng rậm ở nước ta.

Bộ phận dùng: Thân cây.

Thành phần hoá học chính: Saponin.

Công dụng: Cao lỏng Ráy leo lá rách chữa vết thương phần mềm, chữa bỏng, thuốc bó gẫy xương.

Cách dùng, liều lượng: Thân cây Ráy leo lá rách, bỏ lá, cạo hết rễ, rửa sạch, đun nước (1kg trong 1 lít nước), dùng để rửa vết thương. Toàn cây giă nhỏ với các vị thuốc khác tẩm rượu, bó vào chỗ găy xương, hàng ngày thay thuốc mới.

 

RẮN

Nhiều loài rắn được sử dụng làm thuốc, phần lớn chúng được săn bắt từ tự nhiên. Ngày nay nhiều loài rắn đă được nhân giống, chăn nuôi với quy mô lớn. Một số loài rắn thường dùng làm thuốc:

- Rắn hổ mang (Naja naja L.), họ Rắn hổ (Elapidae).

- Rắn cạp nong (Rắn mai gầm) (Bungarus fasciatus Schneider), họ Rắn hổ (Elapidae).

- Rắn cạp nia (Rắn mai gầm bạc) Bungarus candidus L., họ Rắn hổ (Elapidae).

- Rắn ráo (Zamenis mucosus L.), họ Rắn nước (Colubridae).

- Các loài rắn biển (Đẻn đai xanh, Đẻn đốm, Đẻn khoang...) thuộc chi Hydrophis, họ Rắn biển (Hydrophidae).

Bộ phận dùng, công dụng, cách dùng, liều lượng:

1. Thịt rắn (bỏ nội tạng): Chứa protein, acid amin. Thường dùng dưới dạng rượu thuốc gồm 1 bộ 3 con gọi là tam xà (1 hổ mang, 1 cạp nong, 1 rắn ráo), hoặc bộ 5 con gọi là ngũ xà (1 hổ mang, 1 cạp nong, 1 cạp nia, 2 rắn ráo). Cũng có thể làm thành dạng viên chữa đau nhức khớp xương, tê bại, nhọt độc.

2. Nọc rắn: Rất độc do có các enzym và protein độc. Thường dùng dưới dạng thuốc tiêm, thuốc mỡ chữa tê thấp, giảm đau cho bệnh nhân ung thư, hạn chế phát triển khối u.

3. Mật rắn: Chứa các acid mật. Chữa thấp khớp, đau lưng, sốt kinh giản ở trẻ em, ho, hen suyễn, sát khuẩn vết thương. Dùng dưới dạng siro, rượu thuốc.

4. Xác rắn (Xà thoái): Chữa động kinh, co giật ở trẻ em, đau cổ họng, ghẻ lở. Dùng 6-12g một ngày, dạng thuốc sắc hay sao vàng tán bột uống, ngâm cồn bôi ngoài.

 

 

RẾT

 Scolopendra

Tên khác: Ngô công, Rít, Thiên long, Bách túc trùng.

Tên khoa học: Scolopendra morsitans L., họ Ngô công (Scolopendridae).

Bộ phận dùng: Cả con.

Thành phần hoá học chính: Chất độc gần giống chất độc ở nọc ong (anbumin), các loại protein khác, chất béo.

Công dụng: Chữa chín mé (đầu ngón tay sưng đau), chữa mụn nhọt sưng đỏ, đau nhức, áp xe. chữa trĩ, chữa liệt thần kinh nặt, méo mồm, lệch mặt do trúng phong, chữa chân tay co quắp, tê bại, chữa viêm tinh hoàn...

Cách dùng, liều lượng: Ngày 1-2g uống trong. Ngâm với dầu vừng bôi ngoài chữa mụn nhọt hay chỗ sưng đau.

Chú ư: Không dùng cho phụ nữ có thai.

 

 

RÂU NGÔ

Styli et stigmata Maydis (Stylus Maydis)

Tên khác: Ngọc mễ tu.

Nguồn gốc: Ṿi và núm phơi khô của hoa cây Ngô (Zea mays L.) đă già và cho bắp, râu ngô hái vào lúc thu hoạch Ngô. Ngô được trồng ở nhiều nơi trong nước ta và nhiều nước khác.

Thành phần hoá học chính: Saponin, tinh dầu, chất nhầy, muối khoáng.

Công dụng: Râu ngô làm thuốc thông tiểu tiện trong các bệnh về tim, đau thận, tê thấp, sỏi thận. Chữa viêm túi mật, chữa viêm gan, vàng da.

Cách dùng, liều lượng: Dùng nước sắc râu Ngô hoặc nấu thành cao lỏng ngày uống 10-20g râu Ngô.

 

RIỀNG

Tên khác: Cao lương khương

Tên khoa học: Alpinia officinarum Hance., họ Gừng (Zingiberaceae). Mọc hoang và được trồng khắp nước ta để làm gia vị và làm thuốc.

Bộ phận dùng: Thân rễ (Rhizoma Alpiniae officinarum).

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu (khoảng 1%), trong đó chủ yếu là cineol, flavonoid.

Công dụng: Kích thích tiêu hoá, dùng trong các bệnh đau dạ dày, kém ăn, chậm tiêu, nôn mửa, đầy hơi. Trị sốt rét, báng tích (sưng lá lách). Chữa hắc lào, lang ben.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 2-10g, dạng thuốc sắc, hoàn, tán, dùng riêng hay kết hợp với các vị thuốc khác. Riềng tươi giă nhỏ, ngâm với cồn 90%, ngày bôi nhiều lần.

 

 

RIỀNG GIÓ

 

Tên khác: Gừng gió, Ngải xanh, Cây mai gan, Riềng dại.

Tên khoa học: Zingiber zerumbet (L.) Sm., thuộc họ Gừng (Zingiberaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi ở nước ta, trong rừng, nơi đất ẩm ướt.

Bộ phận dùng: Thân rễ (Rhizoma Zingiberis zerumbet).

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, nhựa, dầu béo.

Công dụng: chữa chứng trúng gió, chóng mặt, nôn nao, ngất xỉu, bồi dưỡng sau sinh, kích thích tiêu hóa, ăn ngon, ngủ tốt, khiến da dẻ trở nên hồng hào. Thân rễ gừng gió có tác dụng điều trị xơ gan cổ trướng đơn thuần.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 20-100g tươi, dạng thuốc sắc, dùng với rượu, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

RONG MƠ

Herba Sargassi

Tên khác: Hải tảo, Rau ngoai, Rau mơ, Rong biển.

Nguồn gốc: Tảo rửa sạch, phơi sấy khô của nhiều loài tảo khác nhau như Dương thê thái (Sargassum fusiforme (Harv) Setch.), Hải khảo tử (Sargassum pallidum Turn. C. Ag.) hoặc một số loài tảo khác thuộc chi Sargassum, họ Rong mơ (Sargassaceae). Cây mọc nhiều ở những dăy núi đá ngầm ven biển nước ta.

Thành phần hoá học chính: Muối vô cơ, protid, acid alginic.

Công dụng: Rong mơ làm thuốc chữa bướu cổ, chế alginat dùng trong công nghiệp hồ vải sợi. Chữa cao huyết áp, chữa ung thư thực quản và trực tràng, chữa ph́ đại tuyến tiền liệt gây bí tiểu ở người già.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc.

 

 

SA NHÂN

Semen Amomi

Nguồn gốc: Là hạt phơi khô lấy từ quả chín của nhiều loại Sa nhân (Amomum sp.), họ Gừng (Zingiberaceae). Cây mọc hoang ở một số vùng núi nước ta.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu 2-2,5% (chủ yếu là borneol, camphor), nhựa, chất béo.

Công dụng: Giúp sự tiêu hoá, chữa đau bụng lạnh, đầy hơi, ăn không tiêu, nôn oẹ, động thai. Làm gia vị, pha rượu mùi.

Cất tinh dầu, chế camphor, borneol làm thuốc và hương liệu.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 2-6g dạng thuốc sắc.

 

SA SÂM

Radix Glehniae

Tên khác: Bắc sa sâm.

Nguồn gốc: Dược liệu là rễ đă bỏ vỏ, phơi hay sấy khô của cây Sa sâm bắc (Glehnia litoralis Fr. Schm.), họ Cần (Apiaceae). Cây vùng ôn đới, vị thuốc nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Đường, tanin, chất béo.

Công dụng: Chữa ho, long đờm, chữa sốt cao, miệng khô khát nước.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 16g, dạng thuốc sắc thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Ghi chú: Sa sâm c̣n là rễ của một số cây như Launae pinnatifida Cass., Microrhynchus sarmentosus DS., Prenanthes sarmentosa Willd., họ Cúc (Asteraceae). Trong đó chủ yếu là rễ của cây Launae pinnatifida. Cây này mọc nhiều ven biển và các đảo ở nước ta, các thầy thuốc dùng thay Sa sâm Bắc.

Nam sa sâm c̣n là rễ cây Adenophora verticillata Fisch., họ Hoa chuông (Campanulaceae), mọc ở các ruộng bỏ hoang. Trung Quốc dùng rễ cây này với tên Nam sa sâm, Luân diệp sa sâm, Cát sâm.

 

SÀ SÀNG

Fructus Cnidii

Nguồn gốc: Dược liệu là quả phơi hay sấy khô của cây (Xà sàng) Sà sàng (Cnidium monnieri (L.) Cuss. = Selinum monnieri Lin.), họ Cần (Apiaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, chất béo.

Công dụng: Chữa liệt dương, bạch đới, khí hư, ḷi dom.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 4-12g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

SẢ

Tên khoa học: Cymbopogon spp., họ Lúa (Poaceae).

Bộ phận dùng: Thân rễ và lá.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu chủ yếu là geraniol, citronelal, citral, thay đổi tuỳ từng loại sả.

Công dụng: Chữa cảm sốt, đau bụng, đầy hơi, chướng bụng, nôn mửa. Chế tinh dầu, làm hương liệu. Tinh dầu sả trừ muỗi, khử mùi hôi tanh. Làm gia vị.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 50-100g thuốc xông hay thuốc hăm. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Các loài Sả được chia thành 3 nhóm:

Nhóm cho tinh dầu Oleum Citronellae, Citronella oil thuộc nhóm này có Sả Java (Cymbopogon winterianus Jawitt), Sả Srilanca - Sả chanh (C. nardus (L.) Rendl,).

Nhóm cho tinh dầu Oleum Palmarosae, Palmarosa oil thuộc nhóm này có Cymbopogon martinii Stapf var. motia).

Nhóm cho tinh dầu Lemongrass oil, Oleum Cymbopogonis citrati, thuộc nhóm này có loài Cymbopogon citratus Stapf..

 

SÀI ĐẤT

Tên khác: Ngổ núi, Cúc nháp, Húng trám.

Tên khoa học: Wedelia chinensis (Obs) Merr. = Wedelia calendulaceae Less., họ Cúc (Asteraceae). Cây mọc hoang và được trồng nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Wedeliae).

Thành phần hoá học chính: Coumarin, flavonoid.

Công dụng: Làm thuốc tiêu độc, dùng khi bị rôm sẩy, mụn nhọt sưng tấy, đinh độc, sưng vú, sốt phát ban. C̣n dùng chữa viêm họng, viêm phế quản măn tính và các loại viêm khác.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 20-40g dạng thuốc sắc. Có thể dùng 100g tươi, giă, vắt lấy nước uống 1-2 lần trong ngày, bă đắp vào chỗ sưng đau.

Chú ư: Loài Sài đất 3 thùy [Wedelia trilobata (L.) Pruski ] cũng được dùng thay thế Sài đất

 

SÀI HỒ

Radix Bupleuri

Nguồn gốc: Là rễ của cây Bắc sài hồ (Bupleurum chinense DC.), hoặc Hiệp hiệp sài hồ (Sài hồ lá hẹp - Bupleurum scorzononaefolium Wild.), họ Cần (Apiaceae). Vị thuốc phải nhập hoàn toàn từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Saponin, tinh dầu.

Công dụng: Chữa cảm sốt, ngực sườn đầy tức, sốt rét, chóng mặt nhức đầu, trĩ, rối loạn kinh nguyệt.

Cách dùng, liều lượng: 4-8g một ngày, dạng thuốc sắc, hoàn tán. Không dùng cho người huyết áp cao.

Chú ư: Trên thực tế chữa bệnh ở Việt Nam người ta dùng rễ phơi sấy khô của cây Sài hồ nam (Pluchea pteropoda Hemsl.), họ Cúc (Asteraceae), c̣n gọi là cây Lức, Hải sài.

Rễ, thân, cành cây Cúc tần (Pluchea indica Less.), họ Cúc (Asteraceae) cũng được dùng với tên gọi Sài hồ nam.

 

 

SÁP ONG

Cera alba, Cera flava

Tên khác: Hoàng lạp, Bạch lạp.

Nguồn gốc: Chất sáp do nhiều loài Ong mật Apis sp., họ Ong (Apidae) tiết ra từ các bộ phận bài tiết để xây tổ.

 Thành phần hoá học: Myricyl palmitat, myricyl cerotata, các alcol myricylic, cerylic và các hydrocarbon khác.

Công dụng: Làm tá dược bào chế thuốc mỡ, thuốc sáp.

 Đông y dùng làm thuốc cầm máu, chữa ung nhọt, lỵ ra máu, các vết thương do bị đánh, trĩ ra máu.

 Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 2-6g, dạng thuốc viên. Phối hợp với các vị thuốc chế cao dán.

Chú ư: Tránh nhầm Sáp ong với Parafin

 

SÂM BỐ CHÍNH

Tên khác: Nhân sâm Phú yên, Thổ hào sâm.

Tên khoa học: Hibiscus sagittifolius Kurz var. quinquelobus Gapnep. = Abelmoschus moschatus (L.) Medik.). var. tuberosus (Span.) Borss., họ Bông (Malvaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi để làm cảnh, làm thuốc.

Bộ phận dùng: Rễ (Radix Hibisci Sagittifolii).

Thành phần hóa học: Chất nhầy 35-40%, tinh bột.

Công dụng: Chữa suy nhược cơ thể, ăn ngủ kém, mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, ho, kinh nguyệt không đều, bạch đới, sốt cách nhật, háo khát.

Cách dùng, liều lượng: 4-8g mỗi ngày, dạng thuốc sắc.

Chú ư: Cây Sâm báo Hibiscus sagittifolius Kurz var. septentrionalis Gapnep. có hoa màu vàng cũng được dùng như Sâm bố chính. Loài này dễ bị nhầm lẫn với cây Vông vang (Abelmoschus moschatus (L.) Medik.). Cần chú ư phân biệt.

 

 

SÂM CAU

Tên khác: Ngải cau, Tiên mao.

Tên khoa học: Curculigo orchioides Gaertn. = Curculigo ensifolia R.Br., họ Sâm cau (Hypoxidaceae). Cây mọc hoang ở nhiều tỉnh miền Bắc nước ta.

Bộ phận dùng: Thân rễ (Rhizoma Curculiginis).

Thành phần hoá học chính: Chất nhầy, saponin, các hợp chất phenol, sterol, flavonoid.

Công dụng: Làm thuốc bổ, chữa phong thấp, đau ḿnh mẩy, thần kinh suy nhược, liệt dương, chữa ho, trĩ, vàng da, đi tiêu chảy, đau bụng. Chữa sốt xuất huyết.

Cách dùng, liều lượng: ngày uống 6-12g dưới dạng thuốc sắc, ngâm rượu.

 

SÂM ĐẠI HÀNH

Tên khác: Tỏi lào, Tỏi đỏ, Kiệu đỏ.

Tên khoa học: Eleutherine subaphylla Gagnep. = Eleutherine bulbosa (Mill) Urban, họ Lay ơn (Iridaceae). Cây được trồng làm thuốc ở nhiều địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Thân hành (Bulbus Eleutherinis subaphyllae).

Thành phần hoá học: Các dẫn chất naphtoquinon: eleutherin, isoeleutherin, eleutherol.

Công dụng: Chữa thiếu máu, xanh xao, vàng da, mệt mỏi, băng huyết. Chữa ho, viêm phế quản, ho ra máu, ho gà, viêm họng, viêm phổi, viêm amidan. Làm thuốc tiêu độc, chữa viêm họng, mụn nhọt, lở ngứa.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-12g, dạng thuốc sắc, rượu thuốc thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

 

SÂM VIỆT NAM

Tên khác: Sâm Ngọc linh, Sâm khu năm.

Tên khoa học: Panax vietnamensis Ha et Grushv., họ Ngũ gia (Araliaceae). Cây mọc hoang ở một số vùng núi thuộc các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng.

Bộ phận dùng: Thân rễ, rễ củ (Rhizoma et Radix Panacis vietnamensis).

Thành phần hoá học chính: Saponin triterpenoid, hợp chất sterol, acid amin, các nguyên tố vi lượng...

Công dụng: Làm thuốc bổ như Nhân sâm, chống xơ vữa động mạch, giảm đường huyết, chữa viêm họng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 1-2g dưới dạng nước sắc, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Chế phẩm Vinapanax (viên) được sản xuất từ Sâm Việt Nam.

 

SEN

Tên khoa học: Nelumbium speciosum Wild. = Nelumbo nucifera Gaertn., họ Sen (Nelumbonaceae). Cây được trồng ở các vùng ao hồ khắp nước ta.

Bộ phận dùng: Hầu như tất cả các bộ phận của cây Sen đều sử dụng làm thuốc.

Lá sen thu hái vào mùa Thu, bỏ cuống dùng tươi hoặc phơi khô (Liên diệp, Hà diệp) - Folium Loti.

Cây mầm trong hạt (Liên tâm) - Embryo Nelumbinis.

Quả Sen thu khi chín (Thạch liên tử) - Frutus Nelumbinis.

Hạt c̣n màng đỏ bên ngoài (Liên nhục, Liên tử) - Semen Nelumbinis.

Thân rễ (Ngó sen, Liên ngẫu) - Nodus Rhizomatis Loti.

Gương sen già sau khi lấy quả phơi khô (Liên pḥng) - Receptaculum Nelumbinis.     

Tua nhị (Liên tu) - Stamen Nelumbinis.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid, flavonoid, acid amin đều có trong các bộ phận: lá sen, tâm sen và gương sen. Ngoài ra trong hạt c̣n có đường, tinh bột, trong tua sen có flavonoid, trong ngó sen có acid amin, vitamin C và tanin.

Công dụng, cách dùng, liều lượng:

- Liên diệp, liên pḥng làm thuốc cầm máu. Ngày 15-30g dưới dạng thuốc sắc.

- Liên tâm dùng làm thuốc ngủ, trấn kinh, chữa thổ huyết. Ngày dùng 4-10g dạng thuốc sắc.

- Liên nhục làm thuốc bổ, an thần, dùng trong trường hợp ăn ngủ kém, suy nhược, di mộng tinh. Ngày 10-20g, dạng thuốc sắc, hoàn tán.

- Liên tu chữa thổ huyết, băng huyết, di mộng tinh. Ngày 5-10g dưới dạng thuốc sắc. Người ta thường dùng nhị sen tươi để ướp cho thơm chè.

 

SIM

Tên khác: Hồng sim, Đào kim nương.

Tên khoa học: Rhodomyrtus tomentosa (Ait) Hassk. = Rhodomyrtus parviflora Alston, họ Sim (Myrtaceae). Cây mọc hoang ở các vùng đồi.

Bộ phận dùng: Búp non, lá, nụ hoa, quả chín.

Thành phần hóa học: Cả cây chứa Tanin. Quả có protein, chất béo, glucid, vitamin A...

Công dụng: Búp và lá Sim chữa đau bụng, tiêu chảy, chữa lỵ trực khuẩn, chữa ung nhọt, chốc lở. Lá làm thuốc cầm máu, chữa vết thương chảy máu, chữa bỏng. Quả sim chín dùng để chế rượu, chữa thiếu máu ở phụ nữ có thai, suy nhược cơ thế, chữa băng huyết. Rễ sim chữa tử cung xuất huyết, chữa lưng gối yếu, mỏi, viêm thấp khớp.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 16-30g búp hoặc nụ tươi nhai nuốt nước hoặc khô tán bột sắc uống. Nước sắc đặc lá hoặc búp dùng rửa vết thương, chốc lở.

 

 

SƠN ĐẬU CĂN

Radix Sophorae

Tên khác: Dă hoè, Khổ sâm, Khổ sâm cho rễ, Khổ cốt.

Nguồn gốc: Rễ phơi hay sấy khô của cây Khổ sâm (Sophora flavescentis Ait.), họ Đậu (Fabaceae). Cây mọc ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam.

Thành phần hoá học: Rễ Sơn đậu chứa alcaloid (matrin, oxymatrin...), flavonoid.

Công dụng: Làm thuốc bổ đắng, lợi tiểu, chữa lỵ. Chữa sưng họng, sưng chân răng, chữa ho, vàng da, táo bón.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 10-12g dưới dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

SƠN THÙ

Tên khác: Sơn thù du.

Nguồn gốc: Vị thuốc là quả chín đă phơi hay sấy khô của cây Sơn thù du (Cornus officinalis Sieb. et Zucc.), họ Sơn thù du (Cornaceae). Vị thuốc phải nhập hoàn toàn từ Trung Quốc

Thành phần hoá học chính: Saponin, tanin, acid hữu cơ.

Công dụng: Chữa tê thấp, đau lưng mỏi gối, ù tai, tăng huyết áp ở người có bệnh thận. Chữa suy nhược cơ thể, tiểu đường, viêm bàng quang mạn tính, viêm cầu thận mạn tính. Chữa viêm loét dạ dày tá tràng. Chữa liệt dương do rối loạn thần kinh chức năng. Chữa kinh nguyệt không đều.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g, dạng thuốc sắc, hoàn, tán, rượu thuốc.

Chú ư: Sơn thù loại bỏ hạt gọi thường gọi là Sơn thù nhục hoặc Du nhục.

 

SƠN TRA

Fructus Docyniae

Tên khác: Quả Chua chát, quả Táo mèo.

Nguồn gốc: Dược liệu là quả chín đă thái phiến phơi hay sấy khô của cây Chua chát (Docynia doumeri Schneid.) và Cây táo mèo (Docynia indica Dec.), họ Hoa hồng (Rosaceae). Cây mọc hoang ở các vùng rừng núi nước ta.

Sơn tra Trung Quốc (Fructus Crataegi) là quả của cây Sơn tra (Crataegus pinnatifida var. major N.E.Br) hoặc dă Sơn tra (Crataegus cybeata Sieb. et Zucc.), họ Hoa hồng (Rosaceae).

Thành phần hoá học chính: acid hữu cơ, vitamin, tanin.

Công dụng: Chữa đau bụng, đầy bụng do ăn nhiều chất dầu mỡ, thịt cá, tả lỵ, sản hậu huyết ứ, bụng đau.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-10g. Dạng thuốc sắc, dùng riêng hoặc phối hợp các vị thuốc khác.

 

SỪNG DÊ HOA VÀNG

Tên khoa học: Strophanthus divaricatus (Loureiro) Hooker et Arn., Họ Trúc đào (Apocynaceae). Cây mọc phổ biến ở Việt nam, có nhiều ở các tỉnh miền trung (Hà Tĩnh, Nghệ An...)

Bộ phận dùng: Hạt phơi hay sấy khô (Semen Strophanthidi divaricati).

Thành phần hoá học chính: Glycosid tim, dầu béo.

Công dụng: Chiết xuất glycosid tim làm thuốc trợ tim. Dùng trong trường hợp suy tim cấp, phù.

Cách dùng, liều lượng: Thuốc tiêm divarin, ống 2ml chứa 0,25mg D-strophantin. Tiêm tĩnh mạch chậm ngày 1-2 ống, liều tối đa 24 giờ là 8 ống. Thuốc độc bảng A, dùng theo chỉ dẫn của thầy thuốc chuyên khoa.

Chú ư: Ngoài loài Strophanthus divaricatus ở nước ta c̣n có một số loài khác thuộc chi Strophanthus có thể nghiên cứu để làm nguồn nguyên liệu chiết xuất glycosid tim.

 

SỬ QUÂN TỬ

Semen Quisqualis

Tên khác: Quả giun, Quả nấc.

Nguồn gốc: Là hạt đă phơi hay sấy khô lấy từ quả già của cây Quả giun (Quisqualis indica L.), họ Bàng (Combretaceae).

Thành phần hoá học chính: Chất béo, acid quisqualic.

Công dụng: Sử quân tử dùng làm thuốc bổ cho trẻ em tiêu hoá kém, gầy yếu, vàng da, bụng ỏng. Trị giun đũa, giun kim, chữa đau nhức răng.

Cách dùng, liều lượng: Trị Giun đũa dùng Sử quân tử sao vàng. Người lớn: 10-20 hạt. Trẻ em: mỗi tuổi một hạt, không quá 20 hạt một ngày, ngày dùng một lần, uống liền 3 ngày.

Chữa sâu răng, đau nhức răng dùng Sử quân tử sắc nước súc miệng hàng ngày.

 

TAM LĂNG

Rhizoma Sparganii

Nguồn gốc: Thân rễ phơi hay sấy khô của cây Tam lăng (Sparganium stoloniferum Buch. Ham.) hoặc cây Tiểu hắc tam lăng (Sparganium racemosum Huds-Scirpus yagara Ohwi), họ Tam lăng (Sparganiaceae). Vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Tinh bột.

Công dụng: Tam lăng dùng chữa bụng đầy trướng, thuỷ thũng, ngực sườn đau tức. Chữa các bệnh kinh bế, làm thông kinh nguyệt. Chữa kiết lỵ.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 3-12g, dùng dạng thuốc sắc, kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Phụ nữ có thai không được dùng.

 

 

TAM PHỎNG

Tên khác: Tầm phỏng, Xoan leo, Tầm bóp leo.

Tên khoa học: Cardiospermum halicacabum  L., họ Bồ ḥn (Sapindaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi ở nước ta.

Bộ phận dùng: Phn trên mt đất (Herba Cardiospermum), rễ Tam phỏng cũng được dùng làm thuốc.

Thành phần hoá học chính: Cành, lá Tam phỏng chứa flavonoid, saponin steroid.

Công dụng: Chữa cảm sốt, viêm đường tiết niệu, viêm thận, tê thấp, phù thũng. Chữa đau ḿnh mẩy, chữa các vết thương phần mềm, chữa tiểu đường...

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g dược liệu khô dưới dạng nước sắc, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác. Nước sắc rễ làm thuốc lợi tiểu, ra mồ hôi.

Chú ư: Quả Tam phỏng chín, khô có khi được dùng để giả mạo vị thuốc Màn kinh tử..

 

 

TAM THẤT

Radix Notoginseng

Tên khác: Nhân sâm tam thất, Kim bất hoán

Nguồn gốc: Dược liệu là rễ phơi khô của cây Tam thất (Panax notoginseng (Burk.) F. H. Chen, họ Ngũ gia (Araliaceae). Tam thất mọc hoang và được trồng ở vùng núi cao phía Bắc nước ta. Dược liệu chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Saponin

Công dụng: Thuốc bổ, cầm máu (chữa thổ huyết, băng huyết, rong huyết , sau đẻ máu hôi không ra hết, lỵ ra máu), ung nhọt, sưng do chấn thương, thiếu máu nặng, mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu. Kinh nghiệm dân gian Tam thất có thể chữa được một số trường hợp ung thư (ung thư vú, ung thư máu...).

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-8g. Dạng thuốc sắc, hầm với thức ăn hoặc thuốc bột. Dùng ngoài có tác dụng cầm máu tại chỗ.

Ghi chú:

Người ta c̣n dùng qủa, hoa Tam thất pha uống như uống chè.

Một số dược liêu mang tên Tam thất:

- Thổ tam thất (Tam thất giả) là rễ củ của cây Gynura pinnatifida DC.= Gynura segetum (Lour.) Merr, họ Cúc (Asteraceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nước ta. Rễ củ làm thuốc điều kinh, thái lát, phơi khô được dùng với tên gọi Truật nam,  Bạch truật nam. Lá Thổ tam thất giă đắp chữa mụn nhọt, sắc uống chữa đau bụng.

- Tam thất nam (Tam thất gừng) là thân rễ cây Stahlianthus thoreli Gagnep., họ Gừng (Zingiberaceae). Cây mọc hoang ở một số vùng núi phía Bắc và được trồng ở nhiều địa phương nước ta.

 

TAM THẤT GỪNG

Tên khác: Cẩm địa la, Khương tam thất, Ngải máu.

Tên khoa học: Kaempferia rotunda L., Kaempferia longa Jacq họ Gừng (Zingiberaceae). Cây mọc hoang ở vùng núi và được trồng làm cảnh, làm thuốc.

Bộ phận dùng: Thân rễ (Rhizoma Kaempferiae Rotundae). thu hái vào mùa Đông-Xuân, rửa sạch, thái phiến phơi khô.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu.

Công dụng: Bổ huyết, điều kinh, cầm máu, giảm đau, giải độc, làm thuốc chữa kinh bế đau bụng, rối loạn kinh nguyệt, người gầy sạm. C̣n dùng chữa đau dạ dày, đại tiện ra máu, sơn lam chướng khí, lở láy, ngộ các loại độc, đau xương và nhất là đau bụng. lá làm thuốc đắp các vết thương. Thân rễ được dùng làm thuốc lợi tiêu hoá, dùng đắp tiêu sưng viêm, mưng mủ, cả cây dùng trị đ̣n ngă tổn thương.

Cách dùng, liều lượng: Liều 6-13g, dạng thuốc sắc, hoặc dùng 6-12g bột uống với nước cơm, phối hợp các vị khác.

 

 

TÂN DI

Flos Magnoliae liliiflorae

Nguồn gốc: Tân di là nụ hoa đă phơi khô của cây Mộc lan (Magnolia liliflora Desr.) họ Ngọc lan (Magnoliaceae). Cây này không có ở Việt Nam, vị thuốc nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu.

Công dụng: Chữa nhức đầu, chảy nước mũi, viêm mũi, viêm xoang, dị ứng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 3-6g, dạng thuốc sắc, hoặc hoàn, tán thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác. Dùng ngoài lượng vừa đủ tán nhỏ bôi vào vải gạc nút vào mũi chữa viêm xoang, dị ứng.

 

TÁO NHÂN

Semen Zizyphi jujubae

Tên khác: Toan táo nhân, Táo ta.

Nguồn gốc: Vị thuốc là hạt già phơi hay sấy khô của cây Táo ta, c̣n gọi là Táo chua (Ziziphus mauritiana Lamk. = (Zizyphus jujuba Lamk.), họ Táo ta (Rhamnaceae). Cây được trồng để lấy quả ăn, hạt bỏ ra được xay lấy nhân làm thuốc.

Thành phần hoá học: Nhân hạt chứa dầu béo, phytosterol, saponin. Lá có rutin.

Công dụng: Táo nhân dùng làm thuốc ngủ, an thần. Lá táo chữa viêm phế quản, đắp ngoài chữa lở loét, ung nhọt.

Cách dùng, liều dùng: Người lớn uống 15-20 hạt có tác dụng trấn tĩnh và gây ngủ. Táo nhân sao đen (Hắc táo nhân) dùng dạng thuốc sắc, phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Táo nhân Trung Quốc (Semen Ziziphi spinosae) là nhân hạt của cây Toan táo (Ziziphus jujuba Mill. var. spinosa (Bunge) Hu ex H. F. Chou). Một số địa phương nước ta sử dụng hat Keo giậu với tên Nam táo nhân (xem 209. Keo giậu).

 

TẮC KÈ

Tên khác: Cáp giới.

Tên khoa học: Gekko gekko L.,, họ Tắc kè (Gekkonidae). Con Tắc kè sống ở các hốc cây, hốc đá, có nhiều ở các vùng thượng du nước ta như Hà Giang, Tuyên Quang...

Bộ phận dùng: Cả con đă loại bỏ nội tạng.

Thành phần hoá học chính: Tắc kè chứa nhiều aminoacid, chất béo (13-15%).

Công dụng: Thuốc bổ, chữa liệt dương, người già đau lưng mỏi gối, hen suyễn.

Cách dùng, liều lượng: Dùng dạng bột hoặc ngâm rượu, dạng bột 3-6g mỗi ngày. Rượu thuốc 10-15ml một ngày.

 

 TẦM GỬI

Herba Loranthi

Nguồn gốc: Thân, cành và lá đă phơi sấy khô của cây Tầm gửi (Loranthus gracilifolius Schult. = Taxillus gracilifolius (Schult.) Ban), họ Tầm gửi (Loranthaceae). Trên thực tế người ta sử dụng nhiều loài Tầm gửi khác nhau.

Thành phần hoá học chính: Flavonoid.

Công dụng: Chữa tăng huyết áp ở người trẻ hoặc do rối loạn tiền măn kinh. Chữa tăng huyết áp ở người cao tuổi, tăng huyết áp kèm tăng cholesterol máu. Chữa viêm cầu thận mạn tính. thường dùng chữa phong thấp, đau nhức xương,...

Cách dùng, liều lượng: ngày 10-50g dưới dạng nước sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Tầm gửi trên cây Dâu tằm gọi là Tang kư sinh

Tầm gửi c̣n được lấy từ các loài Scurrula glacilifolia (Schult.) Dans., Macrosolen tricolor (Lec.) Dans., Taxillus chinensis (DC.) Dans. (Ramulus Taxilli) Scurrula glacilifolia (Schult.) Dans.; Scurrula parasitica L. = Loranthus parasiticus (L.) Merr. và nhiều loài khác.

 

TẦN GIAO

Radix Gentianae macrophyllae

Nguồn gốc: Rễ phơi hay sấy khô của cây Tần giao (Gentiana macrophylla Pallas.) và một số loài Tần giao khác, họ Long đởm (Gentianaceae).

Thành phần hoá học chính: Alcaloid (gentianin A,B,C), iridoid glycosid.

Công dụng: Chữa phong thấp tê đau, chân tay co quắp, vàng da, xương cốt đau nhức và nóng, trẻ con cam nhiệt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-10g, dạng thuốc sắc, hoàn, tán. Thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

 

TÊ GIÁC

Cornu Rhinoceri

Tên khác: Sừng tê.

Nguồn gốc: Sừng của một số loài giác như Rhinoceros unicornis L., Rhinoceros sondaicus Desmarest, Rhinoceros sumatrensis Fischer., họ Tê giác (Rhinocerotidae).

Thành phần hoá học chính: Sừng chứa keratin, calci carbonat, calci photsphat, acid amin.

Công dụng: Chữa các bệnh xuất huyết như nôn ra máu, chảy máu cam, xuất huyết dưới da. Chữa sốt, mê sảng, co giật.

Cách dùng, liều lượng: Cưa Sừng tê thành mẩu nhỏ, ngâm nước hoặc đồ chín rồi thái lát hoặc mài, tán thành bột. Ngày uống 0,2-0,5g.

Chú ư: Trong y học cổ truyền người ta thường thay Sừng tê bằng Sừng trâu (Cornu  Bubali).

Không dùng phối hợp Tê giác với Thảo ô và Xuyên ô.

 

 

TẾ TÂN

Herba Asari

Nguồn gốc: Dược liệu là toàn cây đă phơi khô của cây Liêu tế tân (Asarum heterotropoides F.Schm. var mandschuricum (Maxim.) Kitag), Hoa tế tân (Asarum sieboldi Miq.), họ Mộc hương (Aristolochiaceae). Vị thuốc Tế tân phải nhập hoàn toàn từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu (gần 3%), trong đó có pinen, methyleugenol.

Công dụng: Chữa cảm lạnh, đau răng, nhức đầu, đau nhức xương, viêm mũi chảy nước hôi.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 1-4g. Ngâm rượu hoặc sắc, dùng riêng hay phối hợp các vị thuốc khác.

 

THẠCH

Agar - agar

Nguồn gốc: Chất nhầy phơi khô chế từ một số loại Rau câu (Gracilaria sp., Gelidium sp.) thuộc ngành Tảo đỏ (Rhodophyta). Các loại Rau câu có nhiều ở bờ biển nước ta.

Thành phần hoá học chính: Chất nhầy.

Công dụng, cách dùng: Chữa táo bón kéo dài ngày 4-16g. Chế môi trường nuôi cấy vi sinh. Làm chất ổn định nhũ dịch. Làm bánh kẹo, giải khát. Dùng trong kỹ nghệ dệt và giấy.

Thạch chiết từ Rau câu thường được chế thành những sản phẩm trung gian tiện dùng, có thể là phiến, bột hoặc sợi. Dạng phiến và sợi có màu vàng nhạt hay không màu, gần như trong suốt. Dạng bột màu trắng, sờ ráp tay. Các dạng nay ít tan trong nước lạnh, nở, tan trong nước sôi.

 

 THẠCH CAO

Gypsum Fibrosum

Tên khác: Đại thạch cao, Băng thạch.

Nguồn gốc: Vị thuốc là chất khoáng có thành phần chủ yếu là Calci sunfat ngậm 2 phân tử nước. Những mỏ khoáng này có ở nhiều địa phương nước ta.

Thành phần hoá học chính: Chủ yếu là CaSO4. 2H2O, có lẫn ít đất sét, cát, hợp chất sunfua, đôi khi có lẫn ít sắt, magiê.

Công dụng: Thạch cao sống rửa sạch, tán nhỏ chữa sốt cao, khát nước, miệng khô, đau đầu, mê sảng, chữa cảm nắng, chảy máu cam. Thạch cao khan nước (CaSO4. 1/2H2O) làm chất kết dính để tráng bản mỏng, làm bột bó, đắp khuôn bó bột.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 12-40g (thuốc sắc), 2-4g (thuốc bột - CaSO4. 2H2O ).

Chú ư: Không được uống bột thạch cao đă rang v́ uống vào sẽ hút nước nở ra, rắn lại và gây tắc ruột.

 

THẠCH HỘC

Herba Dendrobii

Nguồn gốc: Vị thuốc là thân phơi sấy khô của một số loài Thạch hộc như Hoàn thảo thạch hộc (Dendrobium loddigesii Rolfe), Mă tiên thạch hộc (Dendrobium fimbriatum Hook.), Hoàng thảo thạch hộc (Dendrobium chrysanthum Wall. ex Lindl.), Thiết b́ thạch hộc (Dendrobium candidum Wall. ex Lindl.), Kim thoa thạch hộc (Dendrobium nobile Lindl.), họ Lan (Orchidaceae).

Thành phần hoá học chính: Thạch hộc chứa alcaloid (dendrobin), chất nhầy, saponin.

Công dụng, liều dùng: Thuốc bổ dưỡng dùng cho người hư lao, gầy yếu, chữa liệt dương, mắt nh́n kém, đau khớp, đau lưng, tay chân nhức mỏi. Ngày 8-16g dưới dạng thuốc sắc, bột.

 

 

THANH CAO

Herba Artemisia carvifoliae

Nguồn gốc: Cành mang lá, hoa đă phơi khô của cây Thanh cao (Artemisia carvifolia Wall. = Artemisia apiacea Hance), họ Cúc (Asteraceae). Cây này mọc hoang ven sông Hồng và ven một số sông ở Lạng Sơn. Vị thuốc ít được dùng.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, alcaloid.

Công dụng: Chữa sốt, lở ngứa.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 5-12g dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.

Chú ư: Không nhầm cây này với cây Thanh hao hoa vàng (Artemisia annua L.), lá dùng để chiết artemisinin, và cây Thanh hao (Thanh cao) (Baeckea frutescens L.)cành dùng để cất tinh dầu (xem Cây chổi xể).

 

THANH HAO HOA VÀNG

Herba Artemisiae annuae

Tên khoa học: Artemisia annua L., họ Cúc (Asteraceae). Cây được trồng nhiều ở một số địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất.

Thành phần hoá học: Sesquiterpenlacton, tinh dầu.

Công dụng: Nhân dân thường dùng Thanh hao để trị sốt, vàng da, đổ máu cam, đi ngoài ra máu, mụn nhọt lở ngứa, ăn không ngon, tiêu hoá kém.

Người ta dùng lá của cây này làm nguyên liệu chiết xuất artemisinin làm thuốc chống sốt rét. Từ artemisinin bán tổng hợp ra artesunat, dạng viên nén và thuốc tiêm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g, dạng thuốc sắc.

Chú ư: Đông y dùng cành mang lá, hoa phơi khô của cây Artemisia carvifolia Wall. = Artemisia apiacea Hance. với tên gọi Thanh cao, Thanh hao.

 

 THANH TƯƠNG TỬ

Semen Celosiae

Nguồn gốc: Hạt chín phơi khô của cây Mào gà trắng (Celosia argenta L.), họ Rau dền (Amaranthaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Thành phần hoá học chính: Hạt chứa polysaccarid là celosian.

Công dụng: Chữa trĩ ra máu, chữa đau mắt sưng đỏ, trĩ ra máu. Chất celosian có tác dụng bảo vệ gan, điều hoà miễn dịch.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g hạt dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Lá cây Mào gà trắng được dùng phối hợp với các vị thuốc khác để chữa hen phế quản.

 

THÀNH NGẠNH

Tên khác: Cúc lương, Đỏ ngọn, Hoàng ngưu trà, Lành ngạnh, Ngành ngạnh, Vàng la.

Tên khoa học: Cratoxylum prunifolium Dyer, họ Măng cụt (Clusiaceae). Cây mọc phổ biến ở nước ta trên các băi hoang, đồi trọc, hay trên các nương rẫy cũ.

Bộ phận dùng: Lá non, vỏ thân, rễ.

Thành phần hoá học chính: Flavonoid, saponin, tanin.

Công dụng: Làm thuốc bổ, kích thích tiêu hoá, phục hồi sức khoẻ khi đau yếu hay sau khi sinh đẻ. Trị cảm mạo, sốt, ho, khản cổ. Lá dùng trị đau dạ dày, ngứa lở. Lá non có thể sắc uống thay chè, để pḥng cảm nắng và bệnh lỵ. Rễ và vỏ thân dùng trị bệnh về mắt, đau mắt đỏ.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-20g khô, 50-100g tươi, dạng thuốc sắc, thường dùng phối hợp với các vị khác.

 

THẢO QUẢ

Fructus Amomi aromatici

Nguồn gốc: Là quả chín phơi khô của cây Thảo quả (Amomum aromaticum Roxb. = Amomum medium Lour. = Amomum tsao-ko Crévost et Lem.), họ Gừng (Zingiberaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở một số vùng núi nước ta.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu (1-1,5%).

Công dụng: Chữa đau bụng đầy chướng, ngực đau, tiêu chảy, ho có nhiều đờm, đờm đặc gây khó thở. Làm gia vị, cất tinh dầu làm hương liệu.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-8g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp các vị thuốc khác.

Chú ư: Một số tài liệu quy định Thảo quả là quả chín phơi khô của cây Amomun tsao-ko Crévost et Lem. (Fructus Amomi tsao-ko), hoặc Amomum costatum Benth.

 

THẢO QUYẾT MINH

Semen Cassiae torae

Tên khác: Đậu ma, Muồng.

Nguồn gốc: Hạt già đă phơi hay sấy khô của cây Thảo quyết minh (Cassia tora L.),(Cassia tora L.), họ Vang (Caesalpiniaceae). Cây mọc hoang và được trồng nhiều nơi ở nước ta.

Thành phần hoá học chính: Anthranoid, dầu béo.

Công dụng: Chữa đau mắt đỏ, quáng gà, nhức đầu, cao huyết áp, mất ngủ, táo bón.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g hạt Thảo quyết minh, dùng dạng thuốc sắc hoặc giă giập, pha hăm như chè. (Thảo quyết minh sao vàng chữa các chứng cao huyết áp, sao đen chữa đau mắt đỏ, chữa mất ngủ).

Chú ư: Người bị tiêu chảy không dùng Thảo quyết minh.

 

 

THẦN KHÚC

Massa Medicata fermentata

Nguồn gốc: Thần khúc gồm nhiều vị thuốc phối hợp nhau, trộn lẫn bột mỳ hoặc bột gạo để gây mốc rồi đóng bánh phơi khô. Số vị có thể từ 4 -5 vị, có thể lên đến 50 vị. Phần nhiều là những vị có tinh dầu như Thanh hao, Hương nhu, Hương phụ, Sơn tra, Thương nhĩ tử, Thiên niên kiện, Quế, Hậu phác, Trần b́, Bán hạ chế, Bạc hà, Sa nhân, Tô diệp, Kinh giới, Địa liền, Mạch nha...

Thành phần hoá học: Rất phức tạp, có các loại tinh dầu, tinh bột, acid hữu cơ, alcaloid...

Công dụng: Chữa ăn không tiêu, nôn, tiêu chảy, lợi sữa, cảm mạo bốn mùa.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 10-20g hoặc hơn, dạng thuốc bột, có khi phối hợp vào các thang thuốc như 1 vị thuốc.

 

THẤT DIỆP ĐỞM

Herba Gynostemmae pedatae

Tên khác: Cổ yếm, Thư tràng 5 lá, Giảo cổ lam...

Nguồn gốc: Phần trên mặt đất phơi sấy khô của cây Thất diệp đởm (Gynostemma pedata Bl. = Gynostemma pentaphyllum Makino.), họ Bí (Cucurbitaceae). Cây mọc hoang nhiều nơi ở nước ta và được trồng ở các vùng khí hậu mát.

Thành phần hoá học chính: Sterol, sắc tố, đường, saponin, flavonoid,

Công dụng: Chữa viêm gan truyền nhiễm, viêm bể thận, loét dạ dày và hành tá tràng. Chữa viêm khớp do phong thấp, bệnh béo ph́. Thất diệp đởm c̣n được dùng làm thuốc chống lăo hoá, thuốc điều trị ung thư...

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-10g dạng thuốc sắc hoặc hăm với nước uống thay chè.

Chú ư: Cổ yếm lá bóng [(Gynostemma laxum (Wall) Cogn] cũng được dùng với cùng công dụng.

 

 

 

THẦU DẦU

Tên khoa học: Ricinus communis L., họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều địa phương nước ta.

Thành phần hoá học chính: Dầu béo (50%), protein (26%), trong đó có ricin là 1 protein độc, ricinin...

Công dụng, cách dùng: Hạt (Semen Ricini) ép lấy dầu, dầu thầu dầu có tác dụng nhuận và tẩy. Ngày dùng 2-10g có tác dụng nhuận, 10-30g có tác dụng tẩy. Acid undecilenic thu được bằng cách cracking dầu Thầu dầu làm thuốc trị nấm ngoài da. Hạt Thầu dầu giă nhỏ làm cao dán chữa viêm hạch cổ, viêm tuyến vú.

 

THĂNG MA

Rhizoma Cimicifugae

Nguồn gốc: Dược liệu là thân rễ đă phơi hay sấy khô của cây Thăng ma (Cimicifuga dahurica Maxim.), Đại tam điệp thăng ma (Cimicifuga heracleifolia Komar.), Tây thăng ma (Cimicifuga foetida L.), họ Hoàng liên (Ranunculaceae). Vị thuốc phải nhập hoàn toàn từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Chất đắng (Cimitin C20H34O7), alcaloid.

Công dụng: Chữa các chứng sa giáng (sa dạ dày, dạ con, trực tràng...), nhức đầu nóng rét, đau họng, mụn lở trong miệng, tả lỵ lâu ngày, ban sởi không mọc hết.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-10g dạng thuốc sắc.

Chú ư: Trên thị trường hiện nay dùng thân rễ của cây Strobilanthes forrestii Diels., họ Ô rô (Acanthaceae) với tên gọi Thăng ma.

 

THỊ ĐẾ

Calyx Kaki

Tên khác: Thị đinh, Tai hồng.

Nguồn gốc: Đài đồng trưởng đă phơi hay sấy khô thu được từ quả chín của cây Hồng (Diospiros kaki L. f. = Diospiros chinensis Blume), họ Thị (Ebenaceae).

Thành phần hoá học chính: Tanin, acid hữu cơ.

Công dụng: Chữa nấc, đầy bụng khó tiêu, chữa tiểu dầm, tiểu nhiều về đêm. Chữa tiêu chảy, cao huyết áp, chữa trĩ.

Cách dùng, liều lượng: 8-12g dưới dạng nước sắc, dùng riêng hay kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Thị tất (Succus Kaki siccatus) là nước ép từ quả Hồng chưa chín phơi hay sấy khô dùng chữa cao huyết áp.

Thị sương (Saccharum Kaki) là chất đường lấy từ quả Hồng dùng chữa ho, đau cổ họng, cổ họng khô.

Chuyển lên đầu trang

 

THIÊN HOA PHẤN

Radix Trichosanthis

Tên khác: Qua lâu căn.

Nguồn gốc: Rễ phơi hay sấy khô của cây Qua lâu (Trichosanthes sp.), họ Bí (Cucurbitaceae). Cây mọc hoang ở vùng núi nước ta, vị thuốc nhập từ Trung quốc.

Thành phần hoá học chính: Saponosid, tinh bột.

Công dụng: Chữa sốt nóng, chữa trẻ con vàng da. Chữa tiểu đường, chữa ho gà, quai bị. Chữa phụ nữ đẻ sữa không xuống. Chữa viêm họng, miệng khô, viêm amidan mạn tính.

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 8-16g dạng thuốc sắc.

Chú ư: Nhiều bộ phận khác của cây cũng được dùng làm thuốc (Hạt cây gọi là Qua lâu nhân).

 

 

 

THIÊN MA

Rhizoma Gastrodiae elatae

Nguồn gốc: Dược liệu là thân rễ đă làm khô của cây Thiên ma (Gastrodia elata Bl.), họ Lan (Orchidaceae). Cây này chưa thấy ở nước ta, vị thuốc nhập từ Trung Quốc.

Bộ phận dùng: Thân rễ thu hái vào mùa Đông - Xuân, rửa sạch, đồ rồi đem phơi ở nhiệt độ thấp.

Thành phần hoá học chính: Thành phần chủ yếu là gastrodin, tinh bột, acid hữu cơ, sistosterol.

Công dụng: Chữa nhức đầu, hoa mắt (huyết áp cao), ù tai, bán thân bất toại, chân tay co quắp, méo mồm, lệch mặt, nói năng, phát âm khó khăn.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 4-10g dạng thuốc sắc dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

THIÊN MÔN ĐÔNG

Radix Asparagi

Tên khác: Thiên môn, Thiên đông, Tóc tiên leo.

Nguồn gốc: Rễ củ đă đồ chín, rút lơi, phơi sấy khô của cây Thiên môn đông (Asparagus cochinchinensis (Lour.) Merr. = Asparagus lucidus Lindl., họ Thiên môn đông (Asparagaceae).

Thành phần hoá học chính: Rễ củ Thiên môn đông chứa saponin steroid, flavonoid (rutin) phytosterol, polysaccarid, acid amin (asparagin).

Công dụng: Thuốc bổ, chữa ho gà ở trẻ em, chữa ho có đờm, thổ huyết. Chữa táo bón, đại tiện khó khăn.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 10-20g dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

 

THIÊN NAM TINH

Rhizoma Arisaematis

Nguồn gốc: Dược liệu là thân rễ của cây Thiên nam tinh (Arisaema consanguineum Schott.) và một số cây thuộc chi này (Arisaema heterophyllum Blume, Arisaema thunbergir Bl., Arisaema amurense Maxim., Arisaema balansae Engl.), họ Ráy (Araceae).

Thành phần hoá học: Tinh bột, saponin, chất nhầy.

Công dụng: Chữa ho có đờm, đầy bụng, ăn không tiêu, chữa nôn nhiều, chân tay lạnh. Chữa trúng phong bất tỉnh, méo miệng. Thiên nam tinh giă nát, thêm giấm, đắp tại chỗ chữa sưng tấy do hạch, lở ngứa, mụn nhọt, rắn cắn.

Cách dùng, liều lượng: Trước khi dùng phải chế với gừng tươi và phèn chua đến khi gần hết ngứa. Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc, hoàn, tán.

Chú ư: Phụ nữ có thai không được dùng Thiên nam tinh.

 

THIÊN NIÊN KIỆN

Rhizoma Homalomenae

Nguồn gốc: Dược liệu là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Thiên niên kiện, c̣n có tên là Sơn thục, Bao kim (Homalomena aromatica Schott.), họ Ráy (Araceae). Cây mọc hoang ở nước ta, dưới các tán rừng nhiệt đới ẩm ướt.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu (0,8-1%), trong đó thành phần chính là linalol, terpineol.

Công dụng: Chữa tê thấp, làm mạnh gân cốt, kích thích tiêu hoá. Chữa người già đau khớp xương, chữa đau bụng kinh, chữa dị ứng, mẩn ngứa, lở sơn. Cất tinh dầu làm hương liệu.

Cách dùng, liều lượng: 5-10g một ngày, dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

 

THIÊN TRÚC HOÀNG

Concretio Silicea Bambusae

Nguồn gốc: Cặn silic lắng đọng lại trong các gióng cây tre hoặc nứa già (Bambusa sp.), họ Lúa (Poaceae)

Thành phần hoá học chính: Muối silic.

Công dụng: Chữa sốt cao ở người lớn, kinh giật ở trẻ em

Cách dùng, liều lượng: 1-2g một ngày, dạng thuốc sắc kết hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Nhiều bộ phận của cây tre được sử dụng làm thuốc:

Trúc lịch là vị thuốc chế bằng cách chặt tre tươi, non cắt thành từng đoạn, nướng, vắt lắy nước. Trúc lịch dùng chữa hen suyễn, sốt cao.

Lá tre xanh (Folium bambusae) dùng để chiết clorophin làm chất nhuộm màu xanh cho mỹ phẩm, dược phẩm.

Trúc nhự (Caulis bambusae in Taeniam) là phần tinh tre, chế bằng cách cạo bỏ lớp vỏ xanh của thân tre, chẻ phân thành từng phoi mỏng rồi phơi khô.

 

THỎ TY TỬ

Semen Curcutae

Nguồn gốc: Dược liệu là hạt chín phơi khô của cây Thỏ ty - Dây tơ hồng (Cuscuta sinensis Lamk.), họ B́m b́m (Convolvulaceae). Dây tơ hồng có ở nhiều nơi trong nước ta, kư sinh trên những cây khác, tuy vậy vị thuốc Thỏ ty tử ta phải nhập hoàn toàn từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Chất nhầy.

Công dụng: Làm thuốc bổ trong trường hợp cơ thể suy nhược, lưng gối đau mỏi, di tinh, tiểu đêm nhiều lần, tiểu văi, tiểu sót. Nước sắc dùng ngoài trị mụn nhọt, sang lở ở trẻ em.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc. 

 

THỔ HOÀNG LIÊN

Tên khoa học: Thalictrum foliolosum DC., họ Hoàng liên (Ranunculaceae). Cây mọc nhiều ở vùng Tây Bắc nước ta.

Bộ phận dùng: Thân rễ (Rhizoma Thalictri)..

Thành phần hoá học chính: Thân rễ Thổ hoàng liên chứa berberin (0,35%), palmatin (0,02%)...

Công dụng: Chữa lỵ amip và lỵ trực trùng. Chữa chứng vàng da, chữa đau mắt, mụn nhọt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-6g chia làm 2 hoặc 3 lần uống dưới dạng thuốc bột hay làm thành viên. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

- Thổ hoàng liên (Thalictrum foliolosum DC.), họ Hoàng liên (Ranunculaceae), thuốc chữa lỵ, vàng da, công dụng như Hoàng liên nhưng yếu hơn.

 

 THỔ NHÂN SÂM

Tên khác: Thổ Cao ly sâm. Đông dương sâm

Tên khoa học: Talinum patens L. = Talinum paniculatum (Jacq.) Gaertn., họ Rau sam (Portulacaceae). Cây mọc hoang và được trồng nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Rễ phơi sấy khô.

Thành phần hoá học chính: Chất nhầy, các glycosid, stigmasterol, ơ-sistosterol...

Công dụng: Thổ nhân sâm dùng làm thuốc bổ khi cơ thể suy nhược, ốm yếu, chữa tiểu dầm, tiểu nhiều, phụ nữ kinh nguyệt không đều. Chữa bệnh về phổi như ho, sốt nóng, mồ hôi trộm. Chữa tiêu chảy ở trẻ em.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g dạng thuốc sắc, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

 

 

 

THỔ PHỤC LINH

Rhizoma Smilacis glabrae

Tên khác: Khúc khắc, Kim cang.

Nguồn gốc: Dược liệu là thân rễ đă phơi hay sấy khô của cây Thổ phục linh (Smilax glabra Roxb.), họ Khúc khắc (Smilacaceae).

Thành phần hoá học: Thân rễ Thổ phục linh chứa saponin steroid, flavonoid, tanin, tinh bột.

Công dụng: Chữa phong thấp, thấp khớp, gân xương co quắp, lợi tiểu, phù thũng. Chữa nước ăn chân, tổ đỉa, vẩy nến, mụn nhọt lở ngứa. Chữa viêm loét dạ dày tá tràng...

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 12-20g. Dạng thuốc sắc hay thuốc bột, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

 

THỔ TAM THẤT

 

Tên khác: Bạch truật nam, Tam thất giả, Cúc tam thất.

Tên khoa học: Gynura pseudochina DC. Syn. Cacalia bulbosa Lour., họ Cúc (Asteraceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Rễ củ để nguyên hoặc thái lát, phơi khô.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid.

Công dụng: Rễ củ làm thuốc bổ, cho phụ nữ sau sinh đẻ, làm thuốc điều kinh. Làm thuốc chữa sốt, cầm máu (chữa thổ huyết, băng huyết, rong huyết, lỵ ra máu), ung nhọt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-8g. Dạng thuốc sắc, hầm với thức ăn hoặc thuốc bột.

Ghi chú: Rễ củ một số loài thuộc chi Gynura được dùng với tên gọi Bạch truật nam.

 

THÔNG

Tên khoa học: Pinus merkusii Jungh et De Vries và một số loài khác thuộc chi Pinus, họ Thông (Pinaceae)

Bộ phận dùng: Nhựa lấy từ thân cây.

Thành phần hoá học: Nhựa chứa khoảng 20% tinh dầu, thành phần chủ yếu của tinh dầu là alpha pinen. Nhựa sau khi cất tinh dầu c̣n lại Tùng hương (colophan). Tùng hương chủ yếu gồm các acid nhựa (acid dextropimaric, acid levopimaric...)

Công dụng: Nhựa thông chữa hen suyễn, chữa ho, chữa vết thương, mụn nhọt, ghẻ lở. Sử dụng trong công nghiệp sơn. Tinh dầu thông làm nguyên liệu bán tổng hợp một số chất thơm dùng trong công nghiệp.

Cách dùng, liều lượng: Thường dùng Tùng hương nấu cao dán nhọt, dán lên các huyệt.

 

THÔNG THẢO

Medulla Tetrapanacis

Nguồn gốc: Vị thuốc là lơi thân đă phơi hay sấy khô của cây Thông thảo (Tetrapanax papyrifera (Hook) K. Koch.), = Aralia papyrifera Hook.), họ Ngũ gia (Araliaceae). Cây mọc hoang ở các vùng rừng, núi nước ta.

Thành phần hoá học chính: Thông thảo chứa cellulose, protein, chất béo.

Công dụng: Thông thảo thường dùng để chữa tiểu tiện bí tắc, tiểu tiện đau, nước tiểu đỏ. Chữa phù nề, làm thuốc lợi sữa khi đẻ không ra sữa, ít sữa.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 3-10g dạng thuốc sắc. Thường phối hợp trong các phương thuốc lợi sữa.

Chú ư: Phụ nữ có thai không được dùng.

 

THÔNG THIÊN

Tên khoa học: Thevetia peruviana (Pers.) K. Schum. = Thevetia neriifolia Juss., họ Trúc đào (Apocynaceae). Cây được trồng nhiều nơi ở nước ta.

Bộ phận dùng: Hạt (Semen Thevetiae).

Thành phần hoá học chính: Hạt Thông thiên chứa glycosid tim, flavonoid, dầu béo.

Công dụng: Chiết xuất thevetin làm thuốc cường tim.

Cách dùng, liều lượng:

Dung dịch cồn thevetin 1/1000 để uống.

Dung dịch 1/100 tiêm tĩnh mạch.

Chú ư: Thuốc độc bảng A. Dùng theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc chuyên khoa.

 

THƯƠNG LỤC

Radix Phytolaccae

Tên khác: Kim thất nương, Trưởng bất lăo.

Tên khoa học: Phytolacca esculenta Van Hout., họ Thương lục (Phytolaccaceae). Cây di thực, trồng làm cảnh, làm thuốc. Loài  Phytolacca dencandra L. Syn. Phytolacca americana L. mọc hoang ở một số địa phương nước ta cũng được dùng làm thuốc.

Bộ phận dùng: Rễ.

Thành phần hoá học chính: Rễ Thương lục chứa saponosid, muối vô cơ, phytolaccatoxin.

Công dụng: Chữa phù nề, ngực bụng đầy trướng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 3-4g dưới dạng thuốc sắc

Chú ư: Thuốc có độc, không dùng cho phụ nữ có thai.

 

 

THƯƠNG TRUẬT

Rhizoma Atractylodis

Tên khác: Mao truật, Xích truật.

Nguồn gốc: Là thân rễ khô của cây Thương truật (Atractylodes lancea (Thunb.) DC.) hoặc cây Bắc thương truật (Atractylodes chinensis (DC.) Koidg.), họ Cúc (Asteraceae). Cây có di thực vào nước ta, dược liệu nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu (có thể đến 9%), trong đó có atractylol, atractylen.

Công dụng: Giúp tiêu hoá, dùng trong trường hợp bụng chướng, buồn nôn, ăn không tiêu.

Trừ phong thấp, xương cốt đau nhức, đau khớp, phối hợp với vị thuốc Pḥng phong.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 5-10g, dạng thuốc sắc hay thuốc bột.

 

THƯỜNG SƠN

Radix Dichroae

Tên khác: Hoàng thường sơn, Áp niệu thảo, Kê niệu thảo.

Nguồn gốc: Dược liệu rễ đă phơi hay sấy khô của cây Thường sơn (Dichroa febrifuga Lour.), họ Thường sơn (Saxiflagaceae). Cây mọc hoang ở những vùng núi cao.

Thành phần hoá học: Các alcaloid nhân quinazolin (febrifugin, isofebrifugin...).

Công dụng: Chữa sốt rét, gây nôn trong các trường hợp ngộ độc thức ăn.

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 6-12g thường dùng dạng thuốc sắc kết hợp với các vị thuốc khác.

 

THƯỜNG XUÂN

Tên khác: Dây thường xuân, Thường xuân đằng.

Tên khoa học: Hedera nepalensis K. Koch var. sinensis (Tobl.) Rehd., Hedera helix L., họ Nhân sâm (Araliaceae). Cây phát triển nhanh, được trồng làm cảnh, khử khí độc trong nhà.

Bộ phận dùng: Thân dây (Caulis Helerae Sinensis), lá thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi khô dùng dần.

Thành phần hoá học chính: Thân cây có tanin và nhựa. Lá chứa hederin, là thành phần hoạt chất chính làm giăn cơ trơn phế quản, giảm độ nhớt dịch nhày giúp long đờm và giảm ho.

Công dụng: Vị đắng, cay, tính ấm, có tác dụng khu phong, lợi thấp, b́nh can, giải độc. Quả, hạt chữa phong thấp, đau lưng. Dây dùng trị viêm khớp đau nhức, viêm gan, đau đầu, nôn ra máu, mắt mờ, nhọt độc sưng đau. Lá dùng làm thuốc điều trị bệnh đường hô hấp, dùng chườm nóng trị sưng hạch, làm kem dưỡng da.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-15g, dạng thuốc sắc, ngâm rượu, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

THUYỀN THOÁI

Periostracum cicadae

Tên khác: Xác ve sầu, Thuyền thuế.

Nguồn gốc: Vị thuốc là xác lột của con ve sầu (Criptotympana pustulata Fabricius), họ Ve sầu (Cicadidae).

Thành phần hoá học chính: Thuyền thoái chứa chất kitin.

Công dụng: Chữa cảm sốt, đậu sởi, sốt phát ban, trẻ em kinh phong co giật, đau mắt có màng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 2-6g dạng thuốc sắc, hoàn tán, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: - Không dùng Thuyền thoái cho phụ nữ có thai.

- Xác của nhiều loài ve sầu khác nhau cũng được dùng với tên gọi Thuyền thoái, và cùng công dụng, không phân biệt.

 

 

TÍA TÔ

Tên khoa học: Perilla ocymoides L. = Perilla frutescens (L.) Britton, họ Bạc hà (Lamiaceae). Cây được trồng ở khắp nơi để làm thuốc và làm rau ăn.

Bộ phận dùng: Quả chín phơi khô (Tô tử - Fructus Perillae - dân gian gọi là hạt), lá (Tô diệp - Folium Perillae), cành (Tô ngạnh - Caulis Perillae).

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, trong đó có perila aldehyd, limonen, trong hạt có dầu.

Công dụng: Lá có tác dụng làm ra mồ hôi, chữa ho, giúp tiêu hoá, chữa cảm cúm. Cành tác dụng như lá nhưng kém hơn. Quả Chữa ho, trừ đờm, hen suyễn, tê thấp. Bộ phận trên mặt đất làm rau, gia vị.

Cách dùng, liều lượng:

Liều dùng hàng ngày lá và hạt 3-10g, cành 6-20g dạng thuốc sắc, dùng riêng hoặc phối hợp với các thuốc khác.

 

TIỀN HỒ

Radix Peucedani

Nguồn gốc: Rễ phơi hay sấy khô của cây Tiền hồ hoa trắng (Peucedanum praeruptorum Dunn.) hay cây Tiền hồ hoa tía (Peucedanum decursivum Maxim.), họ Cần (Apiaceae). Dược liệu chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học: Rễ Tiền hồ chứa tinh dầu, coumarin.

Công dụng: Chữa cảm sốt, nhức đầu, nôn mửa, ho có đờm, suyễn. Một số nước châu Âu chiết coumarin phối hợp làm thuốc chữa ung thư vú.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-10g dạng thuốc sắc, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

 

 

TIỂU HỒI

Fructus Foeniculi

Nguồn gốc: là quả chín phơi khô của cây Tiểu hồi (Foeniculum vulgare Mill.), họ Cần (Apiaceae). Cây trồng ở các nước có khí hậu mát. Nước ta có trồng ở một số nơi, dược liệu chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Quả Tiểu hồi chứa tinh dầu (3-12%), chủ yếu là anethol.

Công dụng: Chữa đau bụng do lạnh, ăn không tiêu đầy bụng, nôn mửa, tiêu chảy. Chữa đau lưng do thận suy, chữa viêm cầu thận cấp, chữa thiểu năng sinh dục ở cả nam giới và phụ nữ.

Làm gia vị, làm nguyên liệu điều chế anethol.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-8g. Dạng thuốc sắc hay thuốc bột, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

 

TÔ MỘC

Lignum Sappan

Nguồn gốc: Dược liệu là gỗ bỏ vỏ chẻ và phơi khô của cây Tô mộc (Caesalpinia sappan L.), họ Vang (Caesalpiniaceae). Cây mọc hoang và được trồng nhiều nơi trong nước ta.

Thành phần hoá học chính: Gỗ Vang chứa chất mầu đa phenol (sappanin, brasilin), tanin, acid galic.

Công dụng: Chữa lỵ ra máu, chảy máu đường ruột, tiêu chảy do nhiễm trùng đường ruột.

Chữa đau bụng kinh, bế kinh, hậu sản ứ huyết (phối hợp với Hương phụ, Ngải cứu).

Cách dùng, liều lượng: 6-12g một ngày, dạng thuốc sắc, hoàn, tán, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Phụ nữ mới có thai, phụ nữ đang hành kinh không được dung Tô mộc.

 

 TOẢ DƯƠNG

Tên khác: Cây Cu chó, Củ gió đất, Hoa đất

Nguồn gốc: Vị thuốc là ḍ của cây Toả dương (Balanophora sp.), họ Gió đất (Balanophoraceae). Cây thường mọc và sống kư sinh trên những cây gỗ lớn, trong rừng sâu ẩm thấp, thường gặp ở Hoà B́nh, Lào Cai.

Thành phần hoá học: Chất màu (anthocyanosid), các ellagitannin và lignan glycosid.

Công dụng: Làm thuốc bổ máu, kích thích ăn ngon miệng, hồi phục sức khoẻ, nhất là phụ nữ sau khi sinh đẻ.

Cách dùng, liều lượng: Toả dương thu hoạch về đem sao cho khô dùng ngày10-20g dưới dạng thuốc sắc hay rượu thuốc, uống trước bữa ăn chính.

 

TỎI

Bulbus Allii

Nguồn gốc : Vị thuốc là ḍ của cây tỏi (Allium sativum L.), họ Hành (Liliaceae) Cây được trồng ở nhiều địa phương nước ta làm gia vị và làm thuốc.

Thành phần hoá học: Tỏi chứa tinh dầu, thành phần chủ yếu của tinh dầu tỏi là các hợp chất có chứa disulfua, chất có hàm lượng cao là alixin.

Công dụng: Chữa lỵ trực trùng, lỵ amip, chữa vết thương phần mềm có mủ, trị giun kim, chữa viêm phế quản măn tính, ho gà, cao huyết áp.

Cách dùng, liều lượng: Lấy tỏi giă nát ngâm với nước sôi để nguội với tỷ lệ 5% hoặc 10% lọc qua gạc, thụt để chữa lỵ (có thể đồng thời ngày uống 6g tỏi, chia làm 3 lần).

Ngày uống 20-50 giọt cồn tỏi 1/5 với cồn 600 (chia làm 2-3 lần) chữa cao huyết áp.

 

TRẮC BÁCH

Tên khoa học: Biota orientalis  Endl. = Thuja orientalis L., họ Trắc bách (Cupressaceae).

Bộ phận dùng: Cành lá non (Cacumen Bietae - Trắc bách diệp), nhân hạt chín phơi khô (Semen Biotae - Bá tử nhân).

Thành phần hoá học chính:

Cành lá Trắc bách chứa tinh dầu (có các thành phần fenchon, camphor, borneol), flavonoid, nhựa, vitamin C, acid hữu cơ.

Nhân hạt chứa dầu béo, saponin.

Công dụng: Cành lá chữa chảy máu cam, ho ra máu, thổ huyết, lỵ ra máu, rong kinh, băng huyết. Nhân hạt làm thuốc an thần, chữa mất ngủ, suy nhược thần kinh, đại tiện bí, mồ hôi trộm. Chữa xơ cứng động mạch, chữa động kinh.

 

TRẠCH TẢ

Rhizoma Alismatis

Tên khác: Mă đề nước.

Nguồn gốc: Vị thuốc là thân rễ đă cạo vỏ ngoài và phơi hay sấy khô của cây Trạch tả (Alisma plantago -aquatica L.), họ Trạch tả (Alismaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở những nơi có nước tại một số vùng nước ta và một số nước khác.

Thành phần hoá học chính: Trạch tả chứa tinh dầu, chất nhựa, protid, glucid.

Công dụng: Thông tiểu tiện, chữa phù thũng, viêm thận, tiểu rắt, tiểu ra máu. Chữa lipid máu cao. Chữa cao huyết áp, chữa gan nhiễm mỡ, chóng mặt hoa mắt.

Cách dùng, liều lượng: 4-12g một ngày dưới dạng thuốc sắc, thường dùng phối hợp các vị thuốc khác.

 

 

TRÀM

Tên khác: Chè đồng, Chè cay,

Tên khoa học: Melaleuca leucadendra L. = Melaleuca cajuputi Powell, họ Sim (Myrtaceae).

Bộ phận dùng: Ngọn mang lá phơi hay sấy khô (Ramulus cumfolio Melaleucae).

Thành phần hoá học chính: Lá Tràm chứa tinh dầu có thành phần chính là cineol.

Công dụng: Lá tràm chữa ứ huyết, chữa suy nhược thần kinh, ít ngủ. Chữa cảm mạo, trừ phong thấp.

Cách dùng, liều lượng: 10-20g lá tươi hoặc 5-10g lá khô dạng thuốc sắc.

Chú ư: Không nhầm với cây Keo lá tràm, họ Đậu, hoặc nhầm với cây Tràm liễu, họ Sim.

 

TRẦM HƯƠNG

 Lignum Aquilariae resinatum

Nguồn gốc: Gỗ có nhựa (đă "hoá trầm") của cây Gió bầu Trầm hương, Trầm dó ( Aquilaria agallocha Roxb) hay (Aquilaria crassna Pierre) hoặc của cây Bạch mộc hương [Aquilaria sinensis (Lour.) Gilg], họ Trầm (Thymeleaceae).

Thành phần hoá học chính: Nhựa thơm, tinh dầu (Agar-wood oil).

Công dụng: Chữa nôn mửa, đau bụng, làm chất thơm trong một số nghi lễ tôn giáo.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 2-4g dạng thuốc sắc hay hoàn tán, thường phối hợp các vị thuốc khác.

Chú ư: - Trầm hương có thể được thu từ cây Xương rồng ba cạnh (Euphorbia  antiquorum L.), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Sự h́nh thành trầm trong cây này cũng giống như sự h́nh thành trầm trong cây Trầm gió. Giá trị của trầm lấy từ cây Xương rồng ba cạnh thấp hơn nhiều so với trầm thu từ các cây thuộc họ Trầm (Thymeleaceae).

-  Nhựa tiết ra, tích tụ lâu năm từ những vết thương của cây Trầm hương gọi là Kỳ nam, là thương phẩm rất có giá trị. - Tránh nhầm với Bí kỳ nam (Kiến kỳ nam) là dược liệu được chế biến từ thân ph́nh thành củ của cây Bí kỳ nam (Hydnophytum formicarium Jack), họ Cà phê (Rubiaceae).

 

 

TRẦU KHÔNG

Tên khác: Trầu cay, Trầu lương.

Tên khoa học: Piper betle L., họ Hồ tiêu (Piperaceae). Cây được trồng phổ biến ở các địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Lá, rễ.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, nhựa, các vitamin.

Công dụng: Lá Trầu không chữa cảm mạo, chữa vết thương phần mềm, chữa bỏng, mụn nhọt, viêm chân răng có mủ. chữa sai khớp, bong gân. Rễ Trầu không dùng kết hợp với rễ Cau để chữa tiểu rắt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 8-10g dạng thuốc sắc, dùng ngoài đắp lá tươi giă nát hoặc ngâm lá với nước để rửa.

 

TRI MẪU

Rhizoma Anemarrhenae

Nguồn gốc: Dược liệu là thân rễ khô của cây Tri mẫu (Anemarrhena asphodeloides Bge.), họ Loa kèn trắng (Liliaceae). Vị thuốc phải nhập hoàn toàn từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Thân rễ Tri mẫu chứa nhiều saponin steroid.

Công dụng: Chữa sốt cao, sốt khát nước, ra nhiều mồ hôi. Chữa viêm phổi, ho, ho khan. Chữa huyết áp cao, nhức đầu, hoa mắt. Chữa viêm tai giữa mạn tính, chữa loét miệng, viêm loét lợi. Chữa đại tiện táo, tiểu tiện vàng, ít, chữa tiểu đường. Chữa phụ nữ động thai.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay kết hợp với các vị thuốc khác. 

 

 

TRINH NỮ HOÀNG CUNG

Tên khác: Tỏi lơi lá rộng.

Tên khoa học: Crinum latifolium L., họ Thuỷ tiên (Amaryllidaceae).

Bộ phận dùng: (Folium Crinii latifolii)..

Thành phần hoá học chính: Lá Trinh nữ hoàng cung chứa alcaloid, saponin, acid hữu cơ.

Công dụng: Điều trị một số dạng ung thư như ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú...

Cách dùng, liều lượng: Ngày 20-50g dạng nước sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Không nhầm cây Trinh nữ hoàng cung với cây Náng hoa trắng (Crinum asiaticum L.).

 

TRÔM

Tên khác: Chim chim rừng, Trôm hôi, Cây quả mơ.

Tên khoa học: Sterculia foetida L., họ Trôm (Sterculiaceae). Cây mọc hoang và cũng được trồng lấy bóng mát, làm thuốc.

Bộ phận dùng: Hạt, vỏ cây và lá (Semen, Cortex et Folium Sterculiae Foetidae). Mủ (gôm) Trôm thu quanh năm, phơi khô, hạt thu hái ở những quả già vào tháng 12 và tháng 1, dùng chế dầu. Thu hái lá và vỏ quanh năm, thường dùng tươi.

Thành phần hoá học chính: Hạt chứa dầu béo, giàu protein và tinh bột. Mủ (gôm) gồm các polysaccarit phân tử cao.

Công dụng: Dầu hạt có tác dụng nhuận tràng, lợi trung tiện. Vỏ cây làm ra mồ hôi, lợi tiểu, chữa phong thấp, dùng ngoài chữa vết thương lở loét, bệnh về da.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-8g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

TRÚC ĐÀO

Tên khoa học: Nerium oleander L., họ Trúc đào (Apocynaceae). Cây trồng làm cảnh nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Lá.

Thành phần hoá học chính: Lá Trúc đào chứa các glycosid tim, chủ yếu là neriolin.

Công dụng: Chiết xuất neriolin sản xuất các chế phẩm thuốc trợ tim theo y học hiện đại.

Cách dùng, liều lượng: Cồn neriolin 1/5000 uống ngày 2-4 lần, mỗi lần 10 giọt. Viên neriolin 0,1 và 0,2mg ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên 0,1mg. Cao lỏng mỗi lần uống 0,01g, 0,5g trong 24h. Bột lá mỗi lần uống 0,05g, 0,5g trong 24h.

Chú ư: Các chế phẩm từ Trúc đào rất độc, chỉ được dùng theo sự hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa.

 

TRƯ LINH

Polyporus

Nguồn gốc: Hạch nấm phơi hay sấy khô của nấm Trư linh (Polyporus umbellatus (Pers.) Fries), họ Nấm lỗ (Polyporaceae).

Thành phần hoá học chính: Polysaccarid

Công dụng: Trư linh làm thuốc lợi tiểu, chữa phù thũng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g dạng thuốc sắc, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Bệnh nhân đau thận, phụ nữ có thai khi dùng Trư linh phải cẩn thận.

 

 

TRỮ MA CĂN

Radix Boehmeriae

 

Nguồn gốc: Trữ ma căn là rễ đă phơi khô của cây Gai [Boehmeria nivea (L.) Gaud.. = Urtica nivea L.], họ Gai (Urticaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều địa phương nước ta.

Thành phần hoá học chính: Trữ ma căn chứa tanin, acid clorogenic (là hợp chất giữa acid cafeic và acid quinic).

Công dụng: Chữa đau bụng động thai, doạ sẩy, có thai ra huyết, chữa xuất huyết đường tiêu hoá. Làm thuốc lợi tiểu, đi tiểu ra máu. Chữa tiểu đục, lở loét, trĩ. Làm mụn nhọt chóng mưng mủ, chữa kiết lỵ, tiêu chảy.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 12-20g. Dạng thuốc sắc, bột hoặc viên. thường phối hợp với các vị thuốc khác, Dùng ngoài giă nát đắp hoặc đun nước để ngâm rửa.

 

 

TỤC ĐOẠN

Radix Dipsaci

Tên khác: Sâm nam.

Nguồn gốc: Vị thuốc là rễ phơi sấy khô của cây Tục đoạn (Dipsacus japonicus Miq.) và một số loài thuộc chi Dipsacus, họ Tục đoạn (Dipsacaceae). Cây mọc ở vùng núi cao miền Bắc nước ta và được trồng ở một số địa phương.

Thành phần hoá học chính: Rễ Tục đoạn chứa alcaloid, saponin, hydratcarbon...

Công dụng: Chữa đau lưng, mỏi gối, di tinh, bạch đới, găy xương, đứt gân do chấn thương, phong thấp gây đau nhức, động thai đau bụng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-12g dưới dạng thuốc sắc, hoàn, tán, rượu thuốc dùng riêng hay kết hợp với các vị thuốc khác.

 

 

 

TỬ UYỂN

Radix Asteris

Tên khác: Thanh uyển, Dă ngưu bàng.

Nguồn gốc: Vị thuốc là rễ phơi sấy khô của cây Tử uyển (Aster tataricus L.f.), họ Cúc (Asteraceae). Vị thuốc phải nhập hoàn toàn từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Rễ Tử uyển chứa Saponin, flavonoid.

Công dụng: Chữa ho suyễn do cảm lạnh, ho lao ra máu, tiểu rắt, tiểu đỏ. Chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng nhiều. Chữa viêm phế quản cấp và mạn tính.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 4-10g, dùng phối hợp với các vị thuốc khác, dạng thuốc sắc, hoàn, tán.

 

T̀ BÀ

Folium Eriobotryae japonicae

Tên khác: T́ bà diệp.

Nguồn gốc: Lá khô của cây Nhót tây hay Nhót Nhật Bản (Eryobotrya japonica Lindl.), họ Hoa hồng (Rosaceae).

Thành phần hoá học chính: Lá chứa nhiều saponin, acid hữu cơ.

Công dụng: Dùng cho phụ nữ có thai bị nôn mửa nhiều, nấc, người bị suyễn, khó thở.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 8-12g dạng thuốc sắc.

Chú ư: Nhân dân ta dùng lá cây Bồng bồng (Calotropis gigantea R. Br.), họ Thiên lư (Asclepiadaceae) với tên Nam t́ bà diệp (xem Bồng bồng).

Tránh nhầm cây Nhót Nhật bản với cây Nhót (Elaeagus latifolia L.), họ Nhót (Elaeagnaceae). 

 

TỲ GIẢI

Rhizoma Dioscoreae

Nguồn gốc: Dược liệu là thân rễ cây Tỳ giải (Dioscorea tokoro Makino hoặc Dioscorea spp.), họ Củ nâu (Dioscoreaceae). Cây mọc nhiều ở một số vùng núi nước ta.

Thành phần hoá học chính: Saponin steroid, tinh bột.

Công dụng: Chữa phong thấp, đau nhức ḿnh mẩy, lợi tiểu, chữa tiểu buốt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 16-20g dạng thuốc sắc, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác.

Ghi chú: Dược điển Việt Nam III có chuyên luận Miên tỳ giải (Rhizoma Dioscoreae septemlobae) và Phấn tỳ giải (Rhizoma Dioscoreae hypoglaucae) thu từ các loài khác nhau thuộc chi Dioscorea

 

UY LINH TIÊN

Radix Clematidis

Nguồn gốc: Vị thuốc là rễ phơi sấy khô của cây Uy linh tiên (Clematis chinensis Osbeck.), và một số loài thuộc chi Clematis khác (C. hexapentala Pall., C. manshurica Rupr.), họ Hoàng liên (Ranunculaceae). Cây mọc hoang ở một số vùng núi nước ta. Dược liệu chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học: Saponin, chất thơm.

Công dụng: Trị phong thấp, chân tay tê b́, phù thũng.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 4-10g, dạng thuốc sắc.

Ghi chú: - Một số địa phương nước ta dùng cây Clematis chinensis Osbeck. với tên Mộc thông (xem [10].

- Nam uy linh tiên là rễ cây Bạch hạc hay Kiến c̣ (Rhinacanthus communis Nees.), họ Ô rô. Thành phần có chứa anthranoid, dùng chữa hắc lào, eczema, chốc lở ngoài da. 

 

VÀNG ĐẮNG

Tên khoa học: Coscinium usitatum Pierre. = Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr., họ Tiết dê (Menispermaceae). Cây mọc hoang ở vùng núi Đông Nam bộ, Nam Trung bộ, Tây nguyên, ở một số nước nhiệt đới khác.

Bộ phận dùng: Thân và rễ (Caulis et Radix Coscinii).

Thành phần hoá học: Alcaloid, chủ yếu là berberin.

Công dụng: Hạ nhiệt, chữa sốt rét, lỵ, tiêu chảy. Chiết xuất berberin làm thuốc chữa lỵ, tiêu chảy, đau mắt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 4-6g, dạng thuốc sắc. Berberin chiết ra từ Vàng đắng thường được chuyển thành Berberin hydroclorid với dạng bào chế viên nén, dung dịch nhỏ mắt 0,05-0,01%.

 

VIỄN CHÍ

Radix Polygalae

Nguồn gốc: Dược liệu là rễ đă bỏ lơi gỗ và phơi hay sấy khô của cây Viễn chí Xiberi (Polygala sibirica L.) hoặc Viễn chí lá nhỏ (Polygala tenuifolia Willd.), họ Viễn chí (Polygalaceae). Nước ta có một số loài Viễn chí mọc hoang ở các vùng núi cao, dược liệu chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Viễn chí chứa saponin triterpenic, nhựa, dầu béo.

Công dụng: Viễn chí dùng chữa ho có đờm, kém trí nhớ, suy nhược, lo âu, mất ngủ.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 2-12g dạng bột, thuốc sắc, cao lỏng.

 

 Chuyển lên đầu trang

VỎ QUƯT (TRẦN B̀)

Pericarpium Citri reticulatae perenne

Nguồn gốc: Dược liệu là Vỏ quả chín phơi khô, để lâu (trên 3 năm) của cây Quưt (Citrus reticulata Blanco), họ Cam (Rutaceae). Cây được trồng ở nhiều địa phương nước ta lấy quả ăn và làm thuốc.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, flavonoid, acid hữu cơ, vitamin...

Công dụng: Chữa tiêu hoá kém, ngực bụng đầy, ợ hơi, nôn mửa, tiêu chảy, ho nhiều đờm.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-12g. Dạng thuốc sắc, thuốc bột, phối hợp trong các bài thuốc.

Ghi chú: Hạt Quưt phơi khô (Semen Citri reticulatae) gọi là Quất hạch. Vỏ quả Quưt c̣n xanh (Pericarpium Citri reticulatae viride) gọi là Thanh b́. Vỏ ngoài quả Quưt gọi là Quất hồng, lá Quưt gọi là Quất diệp.

 

VÔNG NEM

Tên khác: Hải đồng, Thích đồng.

Tên khoa học: Erythrina variegata L.., họ Đậu (Fabaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: (Folium Erithrina variegatae). Vỏ thân (Hải đồng b́ - Cortex Erithrina variegatae).

Thành phần hoá học chính: Alcaloid, tanin, flavonoid.

Công dụng: An thần, chữa mất ngủ, viêm ruột, tiêu chảy, lỵ, phong thấp, c̣n dùng chữa viêm da lở nước (sắc đặc rửa).

Cách dùng, liều lượng:

Ngày uống 4-6g lá khô, hoặc 8-12g vỏ thân, dạng thuốc sắc, cao lỏng, hoàn.

Chú ư: Lá Vông có trong thành phần nhiều chế phẩm đông dược trên thị trường với tác dụng an thần, gây ngủ.

 

VÔNG VANG

Tên khác: Bông vang

Tên khoa học: Abelmoschus moschatus (L.) Medic =  Hibiscus abelmoschus L., họ Bông (Malvaceae). Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta.

Bộ phận dùng: Hạt - Semen Abelmoschi, lá Folium Abelmoschi, rễ - Radix Abelmoschi,

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, chất nhầy.

Công dụng: Hạt làm thuốc trấn kinh, chữa di tinh thông tiểu, chữa rắn cắn. Rễ dùng làm thuốc bổ thay Sâm bố chính.

Cách dùng, liều lượng: Tinh dầu Vông vang thường được chiết bằng dung môi là một loại tinh dầu cao cấp.

Ngày dùng 4-6g hạt dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột chữa di tinh, thông tiểu, trấn kinh.

 

VỐI

Tên khoa học: Eugenia operculata Roxb., họ Sim (Myrtaceae). Cây mọc hoang và được trồng nhiều nơi làm trà uống, làm thuốc.

Bộ phận dùng: Nụ hoa, vỏ thân, lá.         

Thành phần hoá học chính: Lá chứa tanin, Flavonoid, alcaloid, tinh dầu, các bộ phận khác chứa sterol, chất béo...

Công dụng, cách dùng: Lá, nụ, hoa pha trà để uống. Lá, vỏ thân, hoa làm thuốc chống đầy bụng, khó tiêu. Nước sắc đậm đặc của lá dùng để sát trùng, rửa mụn nhọt, lở loét.

Chú ư: Cây vối rừng (Eugenia jambonala Lamk.) cũng được dùng như cây Vối.

 Chuyển lên đầu trang

 

XÁ XỊ

Tên khác: De hương, Vù hương, Canh châu.

Tên khoa học: Cinnamomum parthenoxylon Meissn., họ Long năo (Lauraceae). Cây mọc hoang ở nhiều vùng rừng trong nước ta.

Bộ phận dùng: Thân cây, rễ, lá.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu có hàm lượng safrol rất cao (75-80%).

Công dụng: Tinh dầu xoa bóp chữa đau do tê thấp, chữa đau bụng, viêm dạ dày, ruột, tiêu hoá kém, làm nguyên liệu bán tổng hợp thuốc, hương liệu, nước giải khát.

Cách dùng, liều lượng: Chữa đau dạ dày 10-15g lá, sắc nước uống. Chữa mẩn ngứa dùng nước sắc đặc để rửa hoặc giă nát đắp lên chỗ lở ngứa.

Gỗ thân cây, rễ là nguyên liệu để cất tinh dầu.

Chú ư: Thời gian gần đây cây Xá xị được khai thác nhiều để cất tinh dầu xuất khẩu.

 

XẠ CAN

Rhizoma Belamcandae

Nguồn gốc: Dược liệu là thân rễ thái phiến phơi hoặc sấy khô của cây Rẻ quạt (Belamcanda chinensis (L.) DC.) syn. Belamcanda punctata Moench, họ Ladơn (Iridaceae). Cây được trồng nhiều nơi trong nước ta để làm cảnh và làm thuốc.

Thành phần hoá học chính: Một số dẫn chất isoflavonoid (belamcandin, tectoridin...)

Công dụng: Kháng khuẩn, tiêu viêm, tiêu đờm. Chữa ho, ho gà, viêm họng, khản tiếng, viêm amidan có mủ. Chữa sốt, thống kinh, đại tiểu tiện không thông, sưng vú, tắc tia sữa, đau nhức tai, rắn cắn.

Cách dùng, liều lượng: Mỗi ngày 3-6g sắc uống. Giă nhỏ 10-20g thân rễ Xạ can tươi với muối, ngậm, bă đắp.

 

 

 

XẠ ĐEN

Nguồn gốc: Dược liệu là thân, cành, của cây Xạ đen  (Ehretia dentata Courch), họ Ṿi voi (Boraginaceae). Cây mọc hoang ở nhiều vùng núi nước ta.

Thành phần hoá học chính: Peptit, alcaloid.

Công dụng: Dùng trong phạm vi nhân dân như là một cây thuốc chữa ung thư. Ở Việt nam chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu về cây này. Gần đây vỏ thân cây được xác định có tác dụng hỗ trợ cho các bệnh nhân ung thư.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 15-20g dạng nước sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Cây Xạ đen c̣n gọi là cây Cùm cụm răng. Trước đây một số tài liệu xác định tên khoa học là (Celastrus sp.), họ Dây gối (Celastraceae).

 

XẠ HƯƠNG

Moschus

Tên khác: Nguyên thốn hương, Lạp tử.

Nguồn gốc: Dược liệu là túi xạ của con Hươu xạ (Moschus moschiferus L.), họ Hươu (Cervidae).

Thành phần hoá học chính: Cholesterin, chất béo, hợp chất ceton - muscon.

Công dụng: Chữa suy nhược thần kinh.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 0,1-0,15g dạng hoàn, tán. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

Chú ư: Phụ nữ có thai không được dùng.

Người ta c̣n lấy Xạ hương từ loài Cầy hương (Viverricula malaccensis Gmelin), họ Cầy (Viverridae).

 

XÍCH THƯỢC

Radix Paeoniae rubra

Nguồn gốc: Rễ đă phơi hay sấy khô của cây Thược dược (Paeonia lactiflora Pall.), cây Xích thược (Paeonia obovata Maxim.), họ Hoàng liên (Ranunculaceae). Vị thuốc phải nhập hoàn toàn từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Tinh bột, chất nhầy, tanin, nhựa, acid benzoic.

Công dụng: Xích thược có công dụng như Bạch thược, dùng chữa đau vùng ngực, bụng, sườn. Chữa ung nhọt sưng đau, đau mắt đỏ, bế kinh. Xích thược thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác chữa sốt xuất huyết, chữa bệnh tim mạch, chống ung thư... Xích thược c̣n dùng làm thuốc giảm đau, cầm máu và kháng khuẩn.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 4-10g, dưới dạng thuốc sắc, thuốc hoàn.

Chú ư: Không dùng cho phụ nữ có thai.

 

XOAN CHỊU HẠN

Tên khác: Cây Neem, Cây xoan Ấn Độ.

Tên khoa học: Azadirachta indica A, Juss. = Melia azadirachta L., họ Xoan (Meliaceae) Cây được nhập và trồng nhiều ở vùng khô hạn tỉnh B́nh Thuận.

Bộ phận dùng: Vỏ thân, vỏ rễ, quả.

Thành phần hoá học chính: Các bộ phận của cây chứa saponin triterpenoid, vỏ thân có chất đắng, hạt chứa dầu béo.

Công dụng: Dầu hạt có tác dụng hợp đồng với thuốc tiểu đường. Thuốc đạn làm từ dầu hạt có tác dụng ngừa thai. Từ hạt và lá cây Xoan chịu hạn người ta chế thuốc bảo vệ thực vật và bảo quản ngũ cốc sau thu hoạch có hiệu quả tốt.

Chú ư: Cây Xoan (Melia azedarach L.) mọc hoang và trồng nhiều ở nước ta có vỏ làm thuốc tẩy giun kim và giun đũa, lá diệt côn trùng, sâu bọ. Cây Xoan đào (Melia toosendan Sieb. et Zucc) có quả làm thuốc với tên Xuyên luyện tử (Fructus Toosendan).

 Chuyển lên đầu trang

XUYÊN KHUNG

Rhizoma Ligustici wallichii

Tên khác: Khung cùng.

Nguồn gốc: Dược liệu là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Xuyên khung (Ligusticum wallichii Franch.), họ Cần (Apiaceae). Cây được trồng ở một số vùng núi cao của nước ta.

Thành phần hoá học chính: Alcaloid, tinh dầu

Công dụng: Chữa suy nhược cơ thể ở người cao tuổi có bệnh tim mạch, phụ nữ sau khi đẻ, tiền măn kinh. Chữa viêm đại tràng. Chữa viêm tắc động mạch. Điều kinh, chữa nhức đầu, cảm mạo, phong thấp, ung nhọt.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột hay ngâm rượu.
 

XUYÊN SƠN GIÁP

Squama manitis

Nguồn gốc: Vị thuốc là vẩy rửa sạch, phơi khô của con Tê tê (Manis pentadactyla L.), họ Tê tê (Manidae). Con Tê tê c̣n gọi là con Trút, sống ở các vùng núi nước ta.

Thành phần hoá học chính: Gelatin, muối vô cơ.

Công dụng: Vẩy Tê tê làm tăng tiết sữa, chữa sữa không thông, tắc tia sữa, thường dùng kết hợp với các vị thuốc khác, ngoài ra người ta c̣n dùng vẩy Tê tê để chữa rắn độc cắn, sốt rét lâu năm, chữa bỏng, lở loét.

Cách dùng, liều lượng: Khi dùng phải sao với cát cho phồng lên, có mầu vàng, có khi rán với dầu mỡ hoặc sao đen (thán sao). Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc, hoàn, tán.

Chú ư: Không dùng cho phụ nữ có thai, đang hành kinh, nhọt đă vỡ mủ, cơ thể suy nhược.

 Chuyển lên đầu trang

XUYÊN TÂM LIÊN

Herba Andrographis

Tên khác: Nguyễn cộng, Khổ đảm thảo.

Tên khoa học: Andrographis paniculata (Burm.f.) Nees,, họ Ô rô (Acanthaceae). Cây trồng ở nhiều địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất.

Thành phần hoá học: Glycosid đắng (andrographiolide).

Công dụng: Làm thuốc bổ đắng, chữa lỵ, viêm ruột, dạ dày, viêm amidan ...

Cách dùng, liều lượng:

Ngày dùng 15-20g dưới dạng thuốc sắc.

Xuyên tâm liên đă được sản xuất và sử dụng dưới dạng viên nén, có thời gian được sử dụng như là một loại thuốc chữa được nhiều bệnh khác nhau.

 

XUYÊN TIÊU

Fructus Zanthoxyli

Nguồn gốc: Vị thuốc là quả phơi khô của nhiều loại Xuyên tiêu (Zanthoxylum sp.), họ Cam (Rutaceae). Nước ta có một số loài thuộc chi Zanthoxylum, dược liệu phải nhập một phần từ Trung Quốc.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu (2-4%).

Công dụng, cách dùng, liều lượng:

Quả chữa đau bụng lạnh, ho, nôn mửa, tiêu chảy, nhức răng (sắc ngậm 30 phút rồi nhổ đi). Mỗi ngày dùng 4-12g, sắc uống hoặc tán thành bột.

Rễ dùng chữa phong thấp gọi là Hoàng lực. Ngày uống 12- 20g dưới dạng thuốc sắc.

 

 

XƯƠNG BỒ

Rhizoma Acori

Nguồn gốc: Vị thuốc là thân rễ đă phơi hay sấy khô của cây Thạch xương bồ lá to (Acorus gramineus Soland. var. macrospadiceus Yamamoto Contr.)và cây Thuỷ xương bồ (Acorus calamus L. var. angustatus Bess), họ Ráy (Araceae). Cây mọc hoang trong rừng núi ẩm ướt, ven bờ suối, trên các triền đá.

Thành phần hoá học chính: Tinh dầu (thành phần chủ yếu là asaron), tanin.

Công dụng: Chữa khó thở, hồi hộp, co giật, ho, ngực bụng đầy tức, ăn không ngon, đau nhức do phong thấp.

Cách dùng, liều lượng: Mỗi ngày 4-10g, dạng thuốc sắc hay hoàn, tán.

Chú ư: Người ta c̣n dùng thân rễ cây Xương bồ lá nhỏ (Acorus pusillus Sieb. = Acorus gramineus Soland. var. pusillus Engl.), Xương bồ lá nhỡ (Acorus gramineus Soland. var. variegatus Hort.), thay thế Xương bồ. Người ta cٍn dùng thân rễ cây Cửu tiết xương bồ (Anemone altaica Fisch.) họ Hoàng liên (Ranunculaceae) thay Xương bồ.

  

 

XƯƠNG RỒNG ÔNG

Tên khác: Hoá ương lặc, Bá vương tiêm.

Tên khoa học: Euphorbia antiquorum L., họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Cây mọc hoang và được trồng làm hàng rào ở nhiều địa phương nước ta.

Bộ phận dùng: Thân, cành, nhựa.

Thành phần hoá học: Friedelan (C30H52O), taraxerol (C30H50O), các acid hữu cơ...

Công dụng: Chữa đau răng, chữa đầy bụng, tẩy tháo nước.

Cách dùng, liều lượng: Cành xương rồng bỏ gai, nướng cho mềm, giă nát, thêm muối ngậm khi đau răng. Nhựa Xương rồng kết hợp với một số vị khác làm thành viên chữa báng.

Chú ư: Cây có độc cần cẩn thận khi dùng.

 Chuyển lên đầu trang

 

XƯƠNG RỒNG BÀ

Tên khác: Xương rồng bà có gai, Vợt gai, Gai bàn chải, Tiên nhân chưởng.

Tên khoa học: Opuntia dillenii (Ker Gawl.) Haw., họ Xương rồng (Cactaceae). Cây mọc hoang dại, rất phổ biến trên các băi cát dọc bờ biển nước ta.

Bộ phận dùng: Toàn cây và rễ (Herba et Radix Opuntiae), thu hái quanh năm.

Thành phần hoá học chính: Chất nhầy, Flavonoid, phytosterol, các acid hữu cơ.

Công dụng: Rễ và thân được dùng chữa đau tâm vị, chữa viêm loét dạ dày-hành tá tràng, chữa báng, lỵ, trĩ ra máu, chữa ho, đau họng, nhọt ở phổi, sưng vú, đinh sang, bỏng lửa và rắn cắn. Dùng ngoài chữa viêm tuyến mang tai, viêm tuyến vú...

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 4-8g, dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.

 

Ư DĨ

 Semen Coicis

Nguồn gốc: Nhân hạt đă phơi hay sấy khô lấy từ quả chín của cây Ư dĩ Coix lachryma-jobi L.), họ Lúa (Poaceae). Cây Ư dĩ mọc hoang, cũng được trồng nhiều nơi ở nước ta và nhiều nước khác.

Thành phần hoá học chính: Carbonhydrad (65%), chất béo, protid (13,7%), hai chất có hoạt tính chống ung thư: coixenolid và a- monolinolein.

Công dụng: Thuốc bồi dưỡng cơ thể, chữa tê thấp, phù thũng, viêm ruột, viêm phổi, tiêu chảy măn tính, sỏi thận.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 10-30g. Dùng riêng hay phối hợp các vị thuốc khác.

Ghi chú: Trên thị trường nước ta có bán nhân hạt của cây Cao lương (Sorghum vulgare Pers.) với tên "Ư dĩ Bắc", là những hạt h́nh trứng màu trắng ngà, chiều dài 0,2-0,45 cm đường kính 0,2-0,4 cm, mặt ngoài nhẵn, mặt trong có rănh chiếm khoảng 1/2 đến 1/3 chiều dài của hạt

.

Chuyển lên đầu trang

Mọi thông tin liên quan đến trang web Xin vui ḷng liên hệ theo số điện thoại 01234195602 hoặc theo địa chỉ Email: thannv@hup.edu.vn

Revised: February 20, 2017 .